Rất cần các nhà sản xuất có tâm, tầm và tiền để tạo nên những ngôi sao thật sự bằng phương án chính xác và chiến lược lâu dài.
Chúng ta là ai?
Sundance - album vừa phát hành của nhạc sĩ Dương Thụ - đang gây một “cú sốc văn hóa” nho nhỏ trong giới âm nhạc Việt. Đây là lần đầu tiên album của một tác giả Việt Nam được chuyển ngữ hoàn toàn sang tiếng Anh, mời ca sĩ nước ngoài hát; còn có sự tham gia chơi nhạc của hai nghệ sĩ Paul Langosch và Mario Trane.
Suốt nhiều năm qua, chúng ta đã nhập khẩu băng đĩa ca nhạc từ nước ngoài, thế nhưng điểm lại hành trình đưa ca khúc Việt ra với bạn bè thế giới thì chỉ mấy câu là đã hết.
Còn nhớ hồi năm 2006, theo lời mời của một công ty truyền thông, ca sĩ Mỹ Linh sang Nhật thu thanh ca khúc “Colour of the moon” và phát hành liền lúc 3 album: “Made in Vietnam”, “Chat với Mozart”, “ Để tình yêu hát”. Đây rõ ràng là tín hiệu vui khi một thị trường khó tính như Nhật Bản chọn ca sĩ Việt Nam. Tuy nhiên, ngoài tính chất quảng bá văn hóa rất đáng ghi nhận thì chuyến đi cũng không hẳn gây được ấn tượng gì lớn với công chúng Nhật về âm nhạc Việt Nam. Có lẽ chính vì không có ca khúc hoặc album nào của Mỹ Linh được chuyển ngữ sang tiếng Nhật cho nên hiệu quả mới chỉ dừng lại ở đó.

Bìa album của ca sĩ Mỹ Linh phát hành tại Nhật Bản.
Quay ngược về quá khứ xa hơn nữa, cũng tại nước Nhật, ca khúc “Ướt mi” của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn được Dàn nhạc Giao hưởng Nhật thu âm bản hòa tấu; và ca khúc “Diễm xưa” thì được đại học Kansai đưa vào giảng dạy tại bộ môn Văn hóa Việt Nam. Tuy nhiên, một tác giả có tới mấy trăm ca khúc được phổ biến rộng rãi như Trịnh Công Sơn mà việc “xuất khẩu” ca khúc của ông vẫn chỉ là những hiện tượng lẻ tẻ, vụt lóe lên rồi… tắt ngấm.
Lâu lâu, báo chí lại đưa tin ca sĩ này ca sĩ kia sẽ đi hát ở Hàn Quốc, Mỹ… nhưng tất cả đều chỉ là “thời vụ ngắn ngày” theo kiểu “đánh thuê” kiếm sống. Thi thoảng cũng có vài bài hát Việt được chuyển ngữ sang tiếng Anh để các ca sĩ Việt thể hiện, nhưng chưa có hiện tượng nào nổi bật. Vậy đến khi nào thì chúng ta có thể “xuất khẩu” âm nhạc Việt thay vì tình trạng “nhập siêu” nhiều năm qua?
Trao đổi về vấn đề này, đa số các nhạc sĩ và ông bầu đều… thở dài, từ chối bình luận. Bởi vì giới âm nhạc vốn dĩ đã không lặng yên, lại còn tồn tại không ít sóng ngầm, ông nọ đi khắp nơi để tuyên truyền là không phục ông kia, sáng tạo của người nọ bị người kia đem ra các diễn đàn bôi xấu, dè bỉu, lâu lâu lại phát hiện ra một vài vụ đạo ca khúc của nước ngoài...
Cho nên tâm thế chung là thờ ơ với “thế sự”, việc ai nấy làm, “đèn nhà ai nhà nấy rạng”. Còn những người có đôi chút quan tâm đến vấn đề mang tính thời sự này thì lại nghiêng về chiều hướng bi quan: “Giờ này là giờ nào mà bàn chuyện xuất khẩu ca khúc Việt? Chúng ta tưởng mình là ai chứ? Làm gì đã có gương mặt nào đủ tầm vươn ra với thế giới mà lo chuyện đó?”.
Tìm đường đi tới với thế giới
Đã quá lâu rồi, rào cản ngôn ngữ, hạn chế về nhận thức, quan hệ cũng như tài chính đã khiến cho các ca khúc của chúng ta chỉ có thể “loanh quanh” góp mặt vào đời sống văn nghệ ở sân nhà.
Tuy nhiên, khách quan nhìn nhận thì đâu phải ca nhạc Việt không thể và không có nổi gương mặt nào để vươn ra với thế giới. So với các ca khúc, mà nhiều trong số đó là ủy mị não tình, chúng ta đã “nhập khẩu” về bấy lâu nay thì chắc chắn Việt Nam có những nhạc phẩm không kém cạnh. Thêm nữa, về nguyên lý mà nói, các ca khúc đã gây tác động lớn tới cộng đồng người Việt (hay bất cứ cộng đồng nào) thì cũng sẽ có giá trị khi được mang tới các cộng đồng khác. Nhưng vấn đề là cách mang nó đi như thế nào?
Yếu tố đầu tiên để ca nhạc có thể vượt ra ngoài biên giới là style riêng về âm nhạc và công nghệ giải trí chuyên nghiệp cộng với khả năng dancing hoàn hảo của ca sĩ. Nền ca nhạc mạnh phải có khả năng tạo nên các trào lưu về chất nhạc, thời trang, phong cách trình diễn. Mạnh nhất về các vấn đề này trong khu vực là Hàn Quốc, các ngôi sao của họ tỏa sáng ở tầm cỡ toàn cầu và thu hút được lượng fans cực lớn. Những ca sĩ nhanh nhạy nhất của Việt Nam cũng đã sang Hàn Quốc để học hỏi về điều này. Tuy nhiên, chúng ta mới chỉ ở trình độ đang đi học cho nên rất khó để có thể tạo ra những style riêng và cạnh tranh trực tiếp trở lại với chính các “bậc thầy”.
Không thể cứ khơi khơi cử các ca sĩ đi tham dự các sự kiện trong khu vực mà không tính tới khả năng đại diện thực sự cho nước nhà. Rất cần các nhà sản xuất có tâm, tầm và tiền để tạo nên những ngôi sao thật sự bằng phương án chính xác và những chiến lược lâu dài. Hiện tại, Việt Nam mới chỉ có các ông bầu ca nhạc, tạo sao nhanh như chớp và khi “sao” chưa kịp sáng thì đã bị “vắt” như… vắt chanh với mục đích kiếm lời. Sau những mùa vụ ngắn ngày, chưa kịp “thò mặt” ra với thế giới thì “sao” đã nhanh chóng bị thay thế bởi các gương mặt mới, nhí nhảnh hơn, thời thượng hơn.
Vấn đề về ngôn ngữ cũng khá quan trọng, bởi khán thính giả bên ngoài biên giới chắc chắn là xa lạ với những yếu tố văn hóa Việt, vì thế, hãy mở cho họ một lối đi để tiến vào vùng đất tâm hồn của chúng ta. Dịch sang tiếng Anh như “Sundance” là một cách rất tốt để quốc tế hóa ca khúc. Sau nữa là các sáng tác muốn phổ dụng trên thế giới thì chắc chắn phải hướng về những đề tài mang tính nhân loại, được phối khí ở đẳng cấp quốc tế và cuối cùng là công cuộc quảng bá chuyên nghiệp tới cộng đồng người nghe.