Gia đình cụ Hán có tới sáu đời làm diễn viên tuồng, nhiều người từng là nghệ sỹ của Nhà hát Tuồng Trung ương, Hiện nay, con trai Nguyễn Đắc Huấn và con dâu, đang công tác ở đoàn chèo Bắc Giang nhưng vẫn tham gia CLB đều đặn với nghệ thuật tuồng ở quê hương. Hai cháu cụ, Nguyễn Đắc Toàn và Hoàng Ngọc Kim cũng là những hạt nhân tiêu biểu của CLB…
Đặc biệt, tham gia đoàn tuồng phải kể đến vợ chồng nghệ sỹ Nguyễn Xuân Tú, Trần Thu Hương. Anh Tú vừa là trưởng đoàn, kiêm đạo diễn, diễn viên. Chị Hương là diễn viên và đảm nhiệm phần phục trang. Thấm thoắt đã hơn 30 năm gắn bó với các vai diễn từ khi công tác ở đoàn Tuồng Hà Bắc, Nguyễn Xuân Tú vẫn như nguyên vẹn tình yêu với môn nghệ thuật này. Dù nghệ thuật Tuồng đã có lúc thịnh-suy, có bước thăng trầm theo biến cố lịch sử nhưng đối với anh cũng như những nghệ nhân ở Tam Lư, tuồng chưa bao giờ vắng bóng.
Không biết Tuồng Tam Lư có từ bao giờ, chỉ nghe các cụ kể lại, tiếng trống phách của những gánh Tuồng Tam Lư đã nổi danh từ xa xưa. Ông ngoại nghệ sỹ Xuân Tú, cụ Ba Tuyên, là một kép tuồng nổi tiếng từ thời phong kiến đã cùng anh, chị em của cụ tham gia nghệ thuật sôi nổi.
Trò chuyện trong căn phòng của gia đình cũng là nơi anh dành riêng để CLB luyện tập cho các hội diễn mới thấy hết tình yêu và niềm đam mê nghệ thuật cháy bỏng của anh. Nghe các cụ kể lại, khán thờ tổ Tuồng đang được thờ tại gia đình anh không biết có từ bao giờ. Chỉ biết rằng hết đời này qua đời khác, thế hệ nối tiếp thế hệ thờ tự, giữ gìn. Nhớ lại chuyện một lần rước “hụt” khán thờ về nhà anh mới thật cảm động. Đó là khi cụ Ngô Văn Lộc (người giữ khán tổ trước đó) đã già yếu đã đồng ý chuyển khán thờ đến nhà anh Tú. Đoàn người cùng trống phách rộn ràng nghênh rước. Nhưng khi đến nơi, cụ lại ngỏ ý “muốn phụng tổ đến hơi thở cuối cùng”. Cho đến khi sắp lìa cõi, cụ mới cho người gọi anh đến, rồi căn dặn… Tình yêu, sự trân trọng giữ gìn của các bậc cha ông với nghệ thuật càng thôi thúc anh cống hiến, có trách nhiệm hơn nữa.
Trước kia, đoàn Tuồng Tam Lư biểu diễn ở đâu, người xem dù phải mua vé cũng đến chật kín sân. Sau dần, các cụ có tuổi, lớp nghệ sỹ gạo cội dần vắng bóng, lại đúng vào những năm xóa bỏ bao cấp, nên từ năm 84, 85 đến khoảng năm 91, tuồng Tam Lư vẫn có được nhắc đến nhưng thực sự là một khoảng trống. Lớp diễn viên, nghệ sỹ kế cận, được đào tạo bài bản như anh Tú lúc đó lại đang ở đoàn Tuồng Hà Bắc, không có điều kiện vực dậy phong trào ở địa phương. Mãi đến năm 1992, khi đoàn Tuồng Hà Bắc bị giải thể, các nghệ sỹ của Tam Lư đã về lại quê hương, cùng nhau tái lập lại đoàn tuồng.
Khi đang quen với cách thức hoạt động chuyên nghiệp, trở về địa phương hoạt động nghiệp dư theo phong trào cũng có không ít khó khăn. Với quân số ít ỏi (11 người bao gồm cả diễn viên, nhạc công), trang phục, đạo cụ thiếu thốn, kinh phí hoạt động không có… anh Tú cùng các diễn viên như Phan Thanh Vân, Ngô Tiến Hiện, Hoàng Ngọc Kim, Nguyễn Đắc Toàn… bắt tay xây lại nền móng phong trào. Khó khăn là thế nhưng với kinh nghiệm của một kép chính của đoàn Tuồng Hà Bắc, đội trưởng đội diễn viên, thường trực Hội đồng nghệ thuật của đoàn, anh Xuân Tú tích cực đi theo các đoàn diễn để học hỏi thêm kinh nghiệm.
Có thể nói, anh cùng các anh chị em nghệ sỹ thời đó đã lấy lại danh tiếng cho tuồng Tam Lư, được khẳng định bằng nhiều tấm Huy chương Vàng tại các hội diễn sân khấu của tỉnh, khu vực và toàn quốc. Hàng năm cứ suốt tháng Giêng cho đến qua hội Gióng, từ ngày giỗ Tổ tuồng (12-8) đến hội xuân là thời gian đoàn đi biểu diễn nhiều nhất, số lượng lên đến 70-100 đêm/năm. Đi diễn nhiều tới mức đoàn có thể nhớ được sở thích của người dân từng vùng, ở đâu thích tuồng chiến, tuồng thương…
Không biết bao nhiêu mùa diễn, hội diễn đoàn đã tham gia. Những lần “mang chuông đi đánh xứ người”, đoàn Tam Lư đều mang về những thành tích cao. Ba lần tham gia Hội diễn toàn quốc đều đạt Nhất, Nhì toàn đoàn; các lần tham gia Hội diễn sân khấu tỉnh đều đạt Huy chương Vàng, Bạc. Từ thành công của những lần tham dự liên hoan đã tạo động lực khích lệ đoàn hoạt động mạnh hơn. Để các vở tuồng cũng mang hơi thở của thời đại, trong những kịch bản, anh Tú đều vận dụng từ những vở cổ để sáng tác các vở gắn với những vấn đề nổi cộm của cuộc sống để các vở không chỉ mang tính giải trí mà còn có tính giáo dục cao hơn như Khát vọng sống, Tuổi trẻ Nguyễn Văn Cừ...
Tuy nhiên hiện nay, một tình trạng chung của các đoàn như Tấn Bào, Đồng Kỵ là thiếu người, không có đủ các diễn viên, nhạc công như trước. Mỗi lần diễn cả vở, đoàn phải mời thêm những nghệ sỹ của các địa phương khác. Anh Xuân Tú, trưởng đoàn tuồng Tam Lư chia sẻ: “Nhiều người dân bây giờ vẫn thích tuồng lắm, chỉ tiếc là chúng ta chưa phải biết khơi gợi để kéo mọi người tìm đến với nghệ thuật này. Trước đây, trên đài, tivi vẫn có những buổi dành riêng cho sân khấu truyền thống. Nhưng số lượng phát sóng ngày càng ít dần. Làm thế nào để góp tiếng nói chung vực dậy một môn nghệ thuật truyền thống không chỉ là tâm tư của các nghệ sỹ mà còn là nguyện vọng của những người yêu tuồng. Điều đáng lo ngại nhất là ai sẽ duy trì những gánh tuồng khi các nghệ sỹ già dần tắt bóng. Ở Đông Anh (Hà Nội) đã rất thành công khi đưa sân khấu vào học đường, chúng tôi rất mong chương trình đó được thử nghiệm ở tỉnh nhà, để giới trẻ có thể hiểu và yêu môn nghệ thuật này”.
Sắp đến giỗ Tổ tuồng, một mùa diễn lại bắt đầu, đoàn Tuồng Tam Lư lại bận rộn với những đêm diễn. Mong sao, sớm có những chính sách thỏa đáng để nghệ thuật tuồng không bị mai một, lãng quên góp phần giữ gìn giá trị đặc sắc trong mạch nguồn văn hoá Việt.