Kịch bản hiện đại còn đỡ, nhưng nếu đó là kịch bản truyền thống mà khi dàn dựng lại được khoác với “lớp áo” của sân khấu hiện đại, trang phục đầu tư, âm thanh ánh sáng… thì dù là vở tuồng, chèo hay cải lương đó có hút được khán giả vẫn không tránh khỏi không ít lời gièm pha rằng đang “phá” nghệ thuật biểu diễn truyền thống?
Có lẽ đã lâu lắm rồi, sân khấu biểu diễn nghệ thuật truyền thống mới được dịp sôi động khi vở chèo “Oan khuất một thời” (phỏng theo tác phẩm “Đêm Ức Trai” của cố tác giả Lưu Quang Hà) do Nhà hát chèo Hà Nội dàn dựng công diễn. Nhưng hai chữ “thành công” vẫn chỉ đang treo trên vở diễn bởi không ít người cho rằng “sự cách tân đã và đang phá nghệ thuật chèo”. Đầu tư tới gần 1 tỷ đồng vào một vở diễn giữa thời buổi khó khăn, và nhất là khi đây lại là một môn nghệ thuật truyền thống bấy lâu khán giả không còn hứng thú, cũng có thể coi Nhà hát chèo Hà Nội đã chịu chơi, dám mạo hiểm.
Nhưng thử hỏi, có mấy nhà hát đủ lực và đủ tự tin để “chịu chơi” như thế? Chỉ riêng tiền trang phục đã “ngốn” 300 triệu, rồi chi phí sân khấu với hệ thống đèn laze chiếu sáng…, bù lại, khán giả đều phải thừa nhận: chưa bao giờ có một vở chèo mà sân khấu cũng như phục trang đẹp đến vậy. Đó là chưa kể đến sự “mạnh tay” của đạo diễn, NSND Doãn Hoàng Giang khi sử dụng một dàn diễn viên còn rất trẻ, và đôi khi, đưa vào những chi tiết “gợi cảm” để tăng tính biểu cảm cũng như làm “nóng” sân khấu. Có vẻ như điều này không phù hợp với một bộ môn nghệ thuật vẫn được khoác cho chiếc áo giản dị, nhưng nó lại phù hợp với nhu cầu cũng như thị hiếu thẩm mỹ của khán giả hiện đại.
 |
Cảnh trong vở chèo “Oan khuất một thời” - vở chèo vừa được Nhà hát Chèo Hà Nội dàn dựng, tái hiện một bi kịch lớn trong lịch sử phong kiến Việt Nam qua hình tượng Nguyễn Trãi trên sân khấu
Có khắt khe quá không khi cho rằng “Oan khuất một thời” đang phá nghệ thuật chèo, bởi thậm chí người xem nào cũng cảm nhận được rằng, đây là một vở chèo chứ không phải vở tuồng hay cải lương. NSND Doãn Hoàng Giang đã tâm sự rằng: “Có người cho rằng tôi “phá chèo”, cách tân chèo nhiều nên mất hết giá trị bản sắc giản dị, mộc mạc của chèo. Tôi thì không nghĩ vậy, tôi có cách làm của tôi bởi suy cho cùng mục đích cuối cùng vẫn là kéo công chúng đến với sân khấu. Tôi quan niệm, nghệ thuật không thu hút được giới trẻ đến xem thì coi như vứt đi.” za
Thiên hạ trăm người trăm ý kiến, tất nhiên không tránh khỏi lời chê, nhưng phải công nhận một điều rằng: sự cách tân này đã làm được cái điều mà người ta đã “báo động đỏ” rất nhiều lần mà không tìm ra được lối thoát, đó là kéo được khán giả đến rạp.
“Bảo tồn” và “phát triển” là cụm từ luôn gắn liền nhau khi đề cập đến các bộ môn nghệ thuật biểu diễn truyền thống. Nhưng có lẽ, đó vẫn là hai thái cực không có sự tương đồng trong suy nghĩ của một bộ phận không nhỏ nghệ sĩ, nhà nghiên cứu. Bảo tồn nguyên vẹn nhưng không có nghĩa là cứng nhắc làm cản trở tới sự phát triển. Nghệ thuật truyền thống, muốn phát triển phải có những thử nghiệm, phải có những cái mới, nhưng nếu cứ mỗi lần cái mới xuất hiện là bị “chụp” ngay “cái mũ” phá truyền thống, liệu rằng có được sự phát triển? Hay phải chăng, cũng vì những thử nghiệm còn quá ít nên mọi búa rìu đều vây quanh nó từ khi mới chào đời.
Nghệ thuật truyền thống, muốn phát triển phải có những thử nghiệm, phải có những cái mới
TS. Đoàn Thị Tình từng lấy làm tiếc khi mảng diễn Linh Tá qua đèo, trong vở tuồng “Sơn Hậu” phát trên tivi lại lấy phông cảnh núi non, rừng cây theo phong cách tả thực. Theo TS Tình, “như vậy còn đâu trí tưởng tượng của khán giả qua những động tác, những biểu hiện tâm tư tình cảm nhân vật được diễn đạt một cách trí tuệ của người diễn. Người diễn viên cũng mất đi cơ hội mà lẽ ra họ có thẻ thỏa sức tung hoành với những trình thức biểu diễn ước lệ như: trèo đèo, xuyên rừng… đem lại cho người xem những khoái cảm nghệ thuật đặc biệt như xưa nữa”. TS còn khẳng định: “Mỹ thuật sân khấu tuồng không thể đi theo phong cách tả thực, không đi vào chi tiết tỉ mỉ của đối tượng mà cần phải chọn lọc lấy cái tinh, cái cốt lõi. Cảnh trí càng đơn giản càng tốt. Đơn giản là truyền thống, là đặc trưng, là bản chất và là trí tuệ để dành đất cho nghệ thuật biểu diễn…”. Xét cho cùng, ý kiến này không sai, chỉ trách diễn xuất của diễn viên tuồng chưa đủ độ chín để cuốn người xem vào từng cử chỉ, hành động thay vì săm soi quá kĩ cái phông nền!
Nói vậy không có nghĩa không có những vở diễn thực sự là một sự lai tạp các thể loại. NSND Trần Bảng dường như hết hi vọng vào con đường làm Tuồng theo đề tài đương đại bởi theo ông “Hết hội thảo lại tọa đàm cũng chỉ cho ra đời những trò diễn hỗn tạp nửa kịch nửa tuồng. Lại còn con đường hội nhập theo xu thế toàn cầu hóa. Đó là xu hướng tuồng diễn tích Tây. Những vở diễn cổ điển phương Tây như Le Cid, Otello xuất hiện dưới hình thức tuồng. Táo tợn hơn nữa, có người còn làm cái trò pha trộn lối diễn tuồng với một lối diễn tây cống hiến cho khán giả một món “hổ lốn”, một vị “cốc-tai” ta tây không thể nào thưởng thức nổi”. Nhưng rồi, những vở diễn như vậy đều nhanh chóng lụi tàn trong sự thờ ơ của khán giả.
Môn nghệ thuật nào cũng vậy, dù truyền thống hay hiện đại, thì đích đến cuối cùng vẫn là khán giả.
Chỉ có điều, những ác cảm tâm lý về những vở diễn không đạt ấy cứ “chụp mũ” tất cả, khiến cho không ít đạo diễn muốn phá cách, muốn làm nên cái mới cũng phải ngậm ngùi sợ sệt, chỉ dám đi trên những con đường đã có người cày xới. Và khi tài năng chưa tới, đầu tư ít ỏi, sản phẩm làm ra không vượt qua nổi những cái bóng quá lớn trước đó lại khiến họ rút vào vỏ ốc của riêng mình. Ít, và có thể nói là hiếm người “vững” được như đạo diễn, NSND Doãn Hoàng Giang. Hay phải chăng vì Doãn Hoàng Giang quá thừa tuổi đời cũng như tuổi nghề để mẫn cảm với mọi lời khen chê. “Xã hội hiện đại luôn sống trong bối cảnh gấp gáp hối hả vì thế nghệ thuật cũng phải phản ánh được điều đó. Tôi không làm chèo chậm rãi như trước mà tiết tấu vở phải nhanh, dứt khoát. Thế giới đã làm những sân khấu hiện đại, tầm cỡ, ta chưa làm được vì điều kiện khó khăn nhưng tại sao khi đưa những trang thiết bị kỹ thuật hiện đại phục vụ cho nghệ thuật thì lại bị cho là “phá”. Tôi nghĩ, đó là quan niệm sai lầm, cổ hủ”. Ý kiến này của Doãn Hoàng Giang cũng đáng để người đời suy ngẫm.
Lịch sử vốn rất công bằng. Lịch sử sẽ bổ sung những thiếu sót và loại đi những cái thừa. Nhưng nếu không cho những ai muốn phát triển nghệ thuật truyền thống bằng con đường cách tân một cơ hội hay nhìn nhận cơ hội của họ, thì có lẽ nghệ thuật truyền thống mãi mãi chỉ có những tích trò cũ, những gương mặt cũ để đời mà không có được thế hệ tiếp nối xứng tầm. Môn nghệ thuật nào cũng vậy, dù truyền thống hay hiện đại, thì đích đến cuối cùng vẫn là khán giả.
NSND Đàm Liên- cây đại thụ của nghệ thuật Tuồng đã tâm sự rất thật rằng: “Nghệ thuật Tuồng dù giỏi đến mấy, hay đến mấy, tài đến mấy cũng phải được thử thách trước quần chúng, trước khán giả. Quần chúng khán giả là thượng đế, họ là những người phán xét nghệ thuật Tuồng có tồn tại hay không? Chứ không phải một đạo diễn nào, một nhà nghiên cứu nào, một nghệ sĩ nào nói Tuồng đi xuống là đi xuống, Tuồng không sống được là không sống được… ”. Quả thật, chúng ta bấy lâu nay vẫn mang nặng tính áp đặt ích kỉ cá nhân, không chịu thừa nhận hay công nhận thành công của người khác. Nghệ thuật là của số đông, nó tồn tại bên ngoài những định kiến và phát triển bằng chính những thử nghiệm.