Các nghệ nhân, nghệ sĩ hát Bài chòi trên khắp cả nước sẽ được mời về để tiến hành khôi phục các vở diễn, trích đoạn ca kịch Bài chòi, tập huấn cho đội ngũ diễn viên trẻ. Nhân sự kiện này, GS Trần Văn Khê đã có bài viết về bộ môn nghệ thuật dân gian đặc sắc này với hi vọng Dự án sẽ tạo nên một cú hích nhằm bảo tồn và phát huy cho Bài chòi.
Theo nhiều nhà nghiên cứu thì chính từ trò chơi Bài chòi mà ca kịch Bài chòi ra đời. Đầu tiên các nghệ nhân diễn trên chiếu trải dưới đất, còn người nghe thì ngồi, đứng xung quanh, nhưng về sau các nghệ nhân ngồi trên một giàn gỗ dựng cao (nên người trong giới thường nói rằng Bài chòi đã từ đất lên giàn) rồi phát triển lên thành sân khấu chuyên nghiệp khá nhanh bởi được nhân dân yêu thích.
Bài bản và làn điệu của ca kịch bài chòi gồm các điệu Xuân Nữ, Xàng Xê, Cổ Bản, Hồ Quảng và dần dần được bổ sung các điệu hát ru, điệu lý thương nhau, lý tang tình, hò khoan (Quảng Nam – Đà Nẵng), nói lía, hò chèo thuyền... Lời hát là những bài thơ bốn chữ theo điệu vè và nhiều nhứt là thơ lục bát, không có nét nhạc cố định mà tuỳ theo thanh giọng của câu thơ. Ba điệu chánh là Xuân, Nữ, Cổ bản (gần hơi bắc của nhạc tài tử) và Xàng xê (gần với hơi hạ trong nhạc tài tử).Về tiết tấu, chỉ có nhịp đều đặn hay nhịp ba bỏ một nhịp, nhưng cũng có thể biến tấu. Nhạc cụ phụ hoạ lúc đầu chỉ có đờn nhị và sanh sứa (là hai mảnh tre chuốt nhọn hai đầu cầm trong một tay, âm thanh chạm vào nhau nghe như tiếng ve kêu), sau thêm đờn nguyệt, ống sáo và sinh tiền. Động tác trên sân khấu áp dụng các điệu múa sắc bùa, lục cúng, bá trạo và vận dụng cả múa tuồng (hát bội). Điểm độc đáo nhất của ca kịch Bài chòi cổ, còn gọi là “Bài chòi chiếu” (diễn trên chiếc chiếu) là một diễn viên có thể thủ một lúc nhiều vai, cùng với vài nhạc cụ thô sơ phụ hoạ mà đủ sức lôi cuốn khán thính giả thích thú theo dõi (Cách biểu diễn này ở châu Á chỉ có thể loại Pansori của Triều Tiên với diễn viên thủ nhiều vai cả nam lẫn nữ, già lẫn trẻ, được sự phụ hoạ của một trống puk).
Đổi mới hay cải lương hoá?
Sau năm 1954, một số nghệ nhân ở Liên khu (LK) 5 tập kết ra miền Bắc và từ Hà Nội đã hình thành Đoàn Ca kịch Bài chòi tại LK5. Theo tư liệu lịch sử thì, Đoàn này lúc đầu gồm 13 nghệ sĩ, 4 nhạc công cùng hai nhà viết kịch là Nguyễn Tường Nhẫn và Ngô Quang Thắng, khi trình diễn tại cửa tập kết Sầm Sơn kịch bản “Trước giờ tạm biệt” diễn đúng theo phong cách Bài chòi cổ, đã rất được hoan nghênh. Tiếp theo, đoàn thường xuyên giới thiệu những vở mới mà danh sách còn ghi lại đầy đủ tại các phòng tư liệu Bài chòi LK5 từ vở “Thoại Khanh Châu Tuấn” đến “Tiếng sấm Tây Nguyên”, “Kiều - Từ Hải”, “Đội kịch chim chèo bẻo”, “Trần Quốc Toản ra quân”, “Dương Vân Nga”. Đến năm 1980, nhân Hội thảo khoa học về Bài chòi tổ chức tại Thuận - Hải, đoàn ca kịch Bài chòi Thuận Hải (tiền thân là đoàn ca kịch Bài chòi LK5) giới thiệu vở mới “Đôi mắt biên cương” quy tụ lực lượng hùng hậu gồm đạo diễn, sáng tác âm nhạc, trang trí sân khấu, chỉ đạo nghệ thuật có tên tuổi, cùng với dàn nhạc quy mô như đờn nhị, đờn nguyệt, sáo, sanh sứa, trống, lại có thêm đờn bầu, đờn tranh, tam thập lục, violon, cello, organ. Tuy có nhiều điểm mới như vậy, nhưng khi xem tôi nhận thấy vở diễn đã bị mất hết phong cách và tư tưởng của ca kịch Bài chòi truyền thống. Quả thật, đó không thể gọi là đổi mới mà đúng ra là cải lương hoá ca kịch Bài chòi.
Việc tìm tòi, sáng tạo cho các bộ môn nghệ thuật cổ có được một hình thức mới, một hơi thở mới luôn là điều đáng trân trọng và cần được ủng hộ. Tuy nhiên, điều quan trọng là trong khi tìm cách phát triển một bộ môn nghệ thuật dân gian thì không nên làm cho nó bị biến chất Bài chòi nguyên gốc vốn đã rất hay rồi, chuyện gì phải cải lương hoá, dân ca hoá?

GS-TS Trần Văn Khê trong một buổi thuyết trình về sự cấp thiết đào tạo lớp trẻ biết hát dân ca, trong đó có Bài chòi
Một hướng đi mới
Gần đây, vào giữa năm 2005, nhân một dịp ra Quảng Ngãi dự Hội thảo khoa học “Văn hiến Quảng Ngãi truyền thống và hiện đại” do Trung tâm Nghiên cứu bảo tồn và phát huy văn hoá dân tộc Việt Nam tổ chức, tôi may mắn được xem một vở ca kịch Bài chòi đề tài hiện đại do nhà thơ Nguyễn Thế Kỷ sáng tác, hai nghệ sĩ Trịnh Công Sơn và Mỹ Lệ dàn dựng và biểu diễn trong một cố gắng tìm tòi hướng đi mới cho nghệ thuật Bài chòi. Vở ca kịch có ngâm thơ theo điệu xuân, điệu ai, hơi Quảng (hơi Quảng trong nhạc tài tử cũng chính là hơi xá trong chầu văn). Đây là điều hoàn toàn có thể chấp nhận được, bởi nếu sử dụng làn điệu của những bộ môn nghệ thuật trong vùng miền để đem vào theo đúng nhịp điệu và tiết tấu của Bài chòi thì sẽ càng làm cho phong phú thêm.
Tôi xúc động khi thấy điều mình vẫn mong ước bảo tồn vốn cổ mà không nệ cổ, sáng tác mới mà không bị Âu hoá, ngoại lai, vẫn còn đậm đà bản sắc dân tộc nay đã có người thực hiện những bước đi đầu tiên, tuy chưa thật hoàn chỉnh nhưng đây là một hướng đi có nhiều hứa hẹn đạt kết quả tốt. Đáng mừng hơn nữa là hiện nay tại Quảng Ngãi đã hình thành một nhóm nghiên cứu thực nghiệm toàn những người trẻ tuổi với nhà thơ Nguyễn Thế Kỷ giàu kinh nghiệm và hai nghệ sĩ trên làm nòng cốt, cùng nhau luyện tập, biểu diễn cũng như đào tạo thêm lớp nghệ sĩ mới cho ca kịch Bài chòi. Nếu nhóm nghệ sĩ Bài chòi này tiếp tục củng cố và phát huy thì Quảng Ngãi sẽ giữ được một di sản quý. Nghệ thuật Pansori Hàn Quốc cũng từng có thời gian bị mọi người quên lãng vì cho là lỗi thời, nhưng về sau tại Hàn Quốc đã thành lập một uỷ ban nghiên cứu sâu về bộ môn này, nhờ vậy được thế giới biết đến rộng rãi và thừa nhận đây là loại đại ca kịch với một diễn viên. Ca kịch Bài chòi của chúng ta cũng không hề thua kém về mặt nghệ thuật, vậy mà tiếc thay lại không có may mắn như Pansori! Theo GS Hoàng Chương – chuyên gia nghiên cứu về Hát bội và Bài chòi cho biết thì, trong các liên hoan, hội diễn chuyên nghiệp về Bài chòi trong những năm gần đây, Quảng Ngãi không có đoàn tham gia. Thật là đáng tiếc, bởi theo tôi được biết, Quảng Ngãi từ xưa đã có phong trào hát Bài chòi rất mạnh.
Tôi nhớ lại trước đây ở tỉnh Nghĩa - Bình có một nghệ sĩ Bài chòi tên Mai, chỉ với một chiếc khăn vắt vai và cây quạt trên tay, một mình đóng nhiều vai với diễn xuất tuồng Thoại Khanh – Châu Tuấn hết sức tài tình, khiến tôi ngồi xem say mê suốt nửa giờ đồng hồ mà xúc động vô cùng. Rõ ràng, nếu chúng ta cố công đầu tư, đào tạo được những nghệ sĩ trẻ để biểu diễn thuần thục nghệ thuật Bài chòi thì cũng có thể thu hút được người thưởng lãm cũng như đưa ra giới thiệu với bạn bè quốc tế. Từ đó trong nước sẽ có được sự quan tâm hơn để đem lại sức sống cho ca kịch Bài chòi được hồi sinh đúng với giá trị bộ môn nghệ thuật đặc sắc mà cha ông để lại. Nếu không, đến lúc nào đó Bài chòi bị mai một thì sẽ là một điều vô cùng đáng tiếc. Từ suy nghĩ đó, mà tôi rất mừng khi nghe tin Bộ VHTTDL đã đầu tư hỗ trợ cho Trung tâm Nghiên cứu bảo tồn và phát huy văn hoá dân tộc Việt Nam cùng Cục Nghệ thuật biểu diễn đã thực hiện thành công Dự án sân khấu học đường về Bài chòi ở một số địa phương miền Trung và đang phục hồi nghệ thuật Bài chòi trên miền Bắc. Bởi theo tư liệu lịch sử thì Bài chòi đã phát triển trên miền Bắc 20 năm (từ 1955 đến 1975), rất nhiều người miền Bắc đã hát Bài chòi và nhân dân miền Bắc cũng rất yêu thích bộ môn nghệ thuật dân gian đặc sắc này. Dĩ nhiên Bài chòi ở miền Trung phải phát triển nhanh hơn nữa để đủ sức lan toả khắp đất nước, đó là ước nguyện của tôi.
GS.Trần Văn Khê