1.Chưa bao giờ ca nhạc len lỏi vào cuộc sống như hiện nay. Không chỉ hệ thống phát thanh truyền hình rộng khắp, trong từng gia đình và mỗi người hầu như đều trang bị cho mình những trang thiết bị nghe nhìn.
Ca nhạc là thứ không thể thiếu vắng!
Cách nay khoảng 15 - 20 năm, sau phim ảnh nước ngoài, thị trường ca nhạc Việt Nam đã lên tiếng báo động về sự thẩm nhập văn hóa ngoại lai. Sự thiếu vắng những sáng tác mới của ca nhạc Việt Nam tạo điều kiện không chỉ ca nhạc xưa cũ thiếu chọn lọc sống dậy mà còn tạo điều kiện cho làn sóng ca nhạc hải ngoại tràn vào.
Như một nhu cầu thiết thân và yêu cầu tự thân, một thế hệ ca sĩ mới và nhạc sĩ sáng tác xuất hiện!
Đó là bước đầu của hình thức được gọi là “xã hội hóa” hoạt động văn hóa nghệ thuật nói chung và ca nhạc nói riêng trong quá trình hội nhập. Ca nhạc Việt Nam khởi sắc dần. Cùng với “Bếp Việt”, “Món ăn Việt”, “Tuần phim Việt”… người ta thấy xuất hiện “Bài hát Việt”. Các hội diễn, liên hoan văn hóa nghệ thuật từ lâu đã trở thành hoạt động truyền thống bị lãng quên, hay không còn tổ chức rôm rả như trước, trái lại những cuộc thi ca nhạc, thời trang được tổ chức dày đặc và bao giờ cũng có tài trợ lớn, đông đảo người tham gia.
Công nghệ nghe – nhìn phát triển mạnh mẽ kéo theo các chương trình ca nhạc bùng nổ. Dường như ai cũng hát. Có vẻ ai cũng là ca sĩ. Thị trường ca nhạc kéo theo sự nổi tiếng của ca sĩ. Nhiều người trở thành “ngôi sao”, “siêu sao” mà không hay biết… “vì sao”?

Ban nhạc Ngũ Cung trong liveshow “Bài hát Việt” tháng 12-2009.
2. Khi khi thị trường ca nhạc tràn ngập giữa cũ và mới, nội và ngoại, thật và giả… dư luận và công luận lại… có ý kiến. Nhạc sĩ Trần Hữu Bích và nhạc sĩ Trương Quang Lục là những người đã dũng cảm, bình tĩnh hàng tuần giúp sức phân loại, giới thiệu ca nhạc…
Ấy là tinh thần công dân và lòng tự trọng!
Hoạt động văn hóa nghệ thuật phát triển cũng đồng thời nảy sinh những vấn đề mới. Chính vì vậy, tổ chức và quản lý văn hóa nghệ thuật càng được coi trọng, theo định hướng: văn hóa vừa là động lực lại vừa là mục đích của công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Khi nền kinh tế hình thành những tập đoàn kinh tế lớn, thì văn hóa nghệ thuật lại ngày càng dàn trải, nhỏ lẻ, manh mún. Sản phẩm văn hóa nuôi sống hàng loạt hệ thống “xe kẹo kéo” nhiều hơn là nuôi sống những công trình văn hóa. Có nơi, có lúc hiện tượng này lấn át, tràn sang cả hệ thống truyền thông quốc gia. Phải chăng ấy là “xã hội hóa” hay chỉ là dạng “bình dân hóa”, “đời thường hóa”.
Trong khi kinh tế có những phạm trù như “kinh tế tri thức”, hiểu ở một góc độ nào đó là chuyên nghiệp hóa hoạt động kinh tế thì hoạt động văn hóa nghệ thuật có lẽ… đi ngược lại?!. Ranh giới chuyên nghiệp và không chuyên ở lĩnh vực này đang bị xóa nhòa, nếu không nói là kéo thấp giá trị văn hóa đỉnh cao vốn có và được dày công xây dựng.
Không thể phủ nhận rằng ca nhạc Việt Nam nhiều mặt tiếp tục khởi sắc. Thế nhưng chúng ta tập trung giới thiệu quá thừa những bài hát tình yêu trai gái, nhiều bài hát nhạt nhẽo, ca từ trống rỗng.
3. Có người nói vui rằng, những ngày này, một tuần có 7 lễ: 1 tân gia, 2 đám ma, 3 đám cưới. Bạn bè có nhà mới, ông bà cha mẹ già ra đi và con cháu chúng ta lớn lên lập gia đình là lẽ đời thường, không thể vắng mặt nếu được mời. Đến dự những lễ này, đều được nghe nhạc. Tân gia thì nhạc cổ điển, nhạc khiêu vũ; lễ tang thì có bài “Lòng mẹ” của Y Vân thì có bài “Ơn nghĩa sinh thành” của Dương Thiệu Tước, hoặc nghe như thét những câu “em ơi, sáu mươi năm cuộc đời”; đám cưới thì “Đám cưới nhà ai mà vui quá trời”… âm thanh náo động cả khu phố, xóm thôn…
Nói điều đơn giản ấy, là muốn nói tới cái thiếu trong sinh hoạt đời thường. Chúng ta còn thiếu nhiều bài hát bản nhạc cần thiết cho những dịp mừng sinh nhật, ngày gia đình… Chào năm mới dù có hát “Tết, Tết, Tết đến rồi” của Từ Huy vẫn phải có bài “Happy New Year”; mừng sinh nhật không thể không có bài “Happy Birthday to you”… Ấy là chưa nói bài hát trong các cuộc thi thể thao, nhất là bóng đá. Đã có thời khi đội Cảng Sài Gòn gặp Cảng Hải Phòng, dàn nhạc cổ động viên cả hai đội đều tấu bản “Mùa xuân trên bến cảng” của Hồ Bắc, sinh ra cãi nhau; đội Quảng Nam Đà Nẵng lại tấu bài “Nắng chiều” của Lê Trọng Nguyễn, để rồi bị thua…
Nhớ lại và suy nghĩ mới thấy rõ sự thiếu hụt này.
4. Tân nhạc Việt Nam từng có những bài hát nổi tiếng để đời. Cách mạng Tháng Tám có bài “19 tháng 8” của Xuân Oanh; thực dân Pháp gây hấn ở Sài Gòn ta có “Nam bộ kháng chiến” của Tạ Thanh Sơn; thắng thực dân Pháp ta có “Giải phóng Điện Biên” của Đỗ Nhuận; giải phóng thủ đô có bài “Tiến về Hà Nội” của Văn Cao; giải phóng Sài Gòn có bài “Mùa xuân trên thành phố Hồ Chí Minh” của Xuân Hồng… Còn đó bao nhiêu bài hát hay về những phong trào, những miền quê, về người Việt Nam yêu dấu…
Thời chiến tranh “tất cả cho tiền tuyến”, cái riêng hòa vào cái chung. Hòa bình, chúng ta dựng xây và phát triển cái chung để cái riêng có điều kiện thể hiện mình. Cái riêng ở đây là cái riêng nghệ thuật, cái riêng điển hình, bởi ca nhạc là hoạt động văn hóa nghệ thuật của đông đảo công chúng!