
Hát then cổ chủ yếu là người cao tuổi, người hát theo tập tục phải kiêng khem cả về ăn uống, sinh hoạt.
Xét về tâm lý chung thì người Việt ta nói chung, người Quảng Ninh nói riêng rất yêu ca nhạc, nếu cứ theo lôgic ấy thì tưởng như các loại hình âm nhạc cổ sẽ dễ dàng có chỗ đứng trong đời sống hôm nay hơn cả. Nhưng thực tế lại khác, bởi đa số các loại hình hát cổ của Quảng Ninh có tiết tấu chậm, hầu như chỉ là một lối ngâm ngợi... không bắt được với nhịp sống năng động hôm nay. Một nghệ nhân hát nhà tơ ở Vạn Ninh (Móng Cái) từng tâm sự: “Tôi già lắm rồi, dù có muốn cũng chẳng hát được bao lâu nữa nên rất sợ không ai giữ được các điệu hát của cha ông. Lớp trẻ bây giờ không thích nghe đâu, con cháu tôi cũng chẳng ai theo. Tôi đưa sách ghi các bài hát cho chúng nó đọc còn sợ chúng nó đánh mất đi...”. Không chỉ không được yêu thích vì lời ca, tiết tấu mà có những loại hát còn rất khó học. Như hát giao duyên của người Dao Thanh Y ở thôn Chín Gian (Bằng Cả, Hoành Bồ) nơi các nét văn hoá truyền thống còn rất đậm nét trong đời sống bà con, nhưng thực tế, những bài hát cổ này người Dao bây giờ nghe mà không hiểu bởi sử dụng tiếng Dao cổ. Hay như then cổ của người Tày ở Bình Liêu cũng vậy, không phải ai cũng hát được, vì theo tập tục của bà con, người hát then cổ phải được thần “chọn”, phải sạch sẽ, kiêng khem trong việc ăn uống, sinh hoạt...
Không chỉ hát nhà tơ, hát giao duyên, hát then mà nhiều loại hình khác như hát soóng cọ, hát soọng cô, hát đúm Yên Hưng, hát giao duyên của ngư dân làng chài trên Vịnh Hạ Long cũng vậy, dường như rất khó tìm được chỗ đứng trong đời sống hôm nay. Người mê, theo các điệu hát này không phải không có, nhưng đại đa số là người trung, cao tuổi, lớp trẻ rất hiếm hoi. Nghệ nhân hát đúm Thanh Quyết từng khẳng định: “Hát đúm phải lớp ngoài 30 tuổi mới có thể vào được...”, nghĩa là với tuổi ấy thì suy nghĩ đã tĩnh lại, chậm lại mới phù hợp với cách hát này trong khi rõ ràng, hát đúm, một loại hình của hát giao duyên vốn chỉ dành cho trai gái tuổi yêu đương để tìm hiểu, hẹn hò nhau.
Thạc sĩ văn hoá Cao Đức Bình cho biết: “Hát cổ cần có không gian, thời gian riêng mới có thể cảm nhận được. Không gian sống chậm như ngày xưa giờ đã thay đổi nên lớp trẻ không nhập được, không hiểu, không thích cũng là điều dễ hiểu...”. Thực tế cho thấy, các loại hình hát truyền thống này phần lớn không còn được bà con sử dụng trong đời sống hiện nay như nó vốn tồn tại trước kia nữa. Như hát nhà tơ ở Vạn Ninh chủ yếu là hình thức hát nghi lễ ở đình làng, vốn cũng không phổ biến trong đời sống, hơn nữa một thời gian dài đình Vạn Ninh bị tàn phá nên hát nhà tơ nơi đây cũng bị mai một đi nhiều. Các loại hát khác cũng có số phận tương tự, vì nhiều lý do ít nhiều đều không còn giữ được như nguyên gốc của nó, không được sử dụng trong cuộc sống thường nhật của bà con sau này. Ngay như hát giao duyên của ngư dân trên Vịnh Hạ Long cũng vậy, các nghệ nhân già cho biết là chỉ cách đây mấy chục năm họ vẫn còn hò hát thường xuyên, nhưng sau thì chẳng ai trong số họ tham gia hát nữa. Lý do đơn giản là khi phương thức kiếm sống thay đổi, họ không còn lênh đênh trên thuyền mà tụ họp lại trên nhà bè, sống quần tụ cùng nhau thì hát để trao đổi tâm tình, tự sự không cần thiết nữa. Và lớp trẻ sau này chẳng hề biết từng có một hình thức hát giao duyên trên biển độc đáo như thế nếu như không được truyền dạy.
Không gian nghệ thuật gốc không còn, các nghệ nhân theo thời gian cũng dần mất đi là quy luật tất yếu. Vậy làm thế nào để có thể phát huy các giá trị văn hoá truyền thống ấy trong đời sống hôm nay? Ông Bình nhận định: “Cuộc sống đã thay đổi, không thể đưa trở về không gian ngày xưa, nhưng chúng ta vẫn có thể tạo môi trường như nguyên bản để nó phát triển như một sinh hoạt trước kia. Và các giá trị văn hoá ấy phải được nuôi dưỡng, phục vụ cho đời sống hôm nay thì mới tiếp tục tồn tại được...”. Và phục vụ du lịch chính là một giải pháp hiệu quả để bảo tồn và phát huy theo hướng này, bởi với du lịch thì văn hoá càng nguyên bản càng tốt để thu hút khách du lịch đi vào tìm hiểu đặc trưng văn hoá gốc của nó. Việc phục dựng làng văn hoá Chín Gian ở Hoành Bồ, xây dựng đội hát giao duyên ở Cửa Vạn (Vịnh Hạ Long), tổ chức ngày hội văn hoá các dân tộc ở các địa phương khu vực miền Đông v.v.. chính là góp phần hướng các loại hình nghệ thuật truyền thống này vào mục đích trên.
Nhưng, thực tế hiện nay thì đội hát giao duyên cũng mới chỉ được học những bài hát mẫu, dàn dựng thành khuôn mẫu và hoạt động tự phát, chưa được tổ chức thành tour tuyến; làng văn hoá Chín Gian chưa bắt đầu khởi động, việc truyền dạy gặp không ít khó khăn; ngày hội văn hoá các dân tộc cũng có xu hướng bị pha tạp giữa văn hoá truyền thống và hiện đại... Như vậy, để phát huy đúng giá trị các loại hình ca hát truyền thống, xem ra con đường phía trước vẫn còn rất nhiều thách thức cho những người tâm huyết với văn hoá của Quảng Ninh.