Hò thường có hai phần: kể là một câu lục bát, song thất lục bát hoặc ở dạng biến thể của các câu trên. Nhịp tương đối tự do (nhất là với những điệu hò sông nước) được trình bày dưới hình thức lĩnh xướng. Phần thứ hai là xô – tiếng đồng ca tập thể hưởng ứng tạo thêm không khí rộn ràng khẩn trương để càng thích hợp với khung cảnh lao động.
Có hai loại hò là hò trên cạn và hò dưới nước.
1./Hò trên cạn:
Những điệu hò trên cạn phổ biến tập trung nhất là từ miền Trung vào đến Nam Bộ: Hò hái củi ở Nghệ An; hò khoan ở Nghệ Tĩnh; hò nện ( Còn gọi là hò hụi hoặc hò giã vôi) để nện móng xây nhà, hò giã gạo, hò tát nước phổ biến từ Bình Trị Thiên vào đến khu V; hò ba lý ở Quảng nam; hò giã đậu, hò leo dốc ở Phú Yên; hò ngải dừa, hò nghé ngợ ở Bình Định. Ở Bình Trị Thiên có ho xay lúa, hò mái ô, hò đạp nước (đạp guồng xe nước để đưa nước lên ruộng), hò đi gặt, hò đi cấy, hò mái nhì trên cạn, hò dô hậy (hoặc dô dàng hậy) để hò trong những lúc quay sa, kéo sợi, thái sắn, thái khoai…hò kéo gỗ hay hò lĩa trâu phổ biến ở Lệ Ninh - Quảng Bình. Hò thuốc giã rễ cây để thuốc cá ( Còn gọi là hò hội lên hay hò ba nương) xuất hiện ở vùng Tuyên hóa_Quảng Bình gần với hò giã sim (giã vỏ cây sim để nhuộm lưới chài). Hò vấn (còn gọi là nói vấn) gần với hò vè ví dặm Nghệ Tĩnh) là loại hò dùng trong lao đông vui chơi của trai gái Bố Trạch, Quảng Trạch, Quảng Bình.

Hò giã gạo
Hò giã gạo ở Bình Trị Thiên, đã có từ bao đời, là sinh hoạt văn hóa nông thôn phản ánh không khí sau mùa gặt; nó không chỉ đơn thuần là công việc giã gạo mà là hội giao duyên của gái trai xét theo nội dung các cuộc hò. Sinh hoạt diễn ra có thứ lớp, có quy củ. Bắt đầu bằng những lời thăm hỏi làm quen, cho đến trao đổi thăm dò, thách đố, gọi là hò đấm bắt, mãi đến cuối cùng là mong nhớ. Những là:
“Rồi mùa thóc rạ rơm khô
Bạn về quê bạn biết nơi mô mà tìm?”
Vấn vương chẳng khác nào trong canh hát quan họ vậy!
Ở Bến Tre Nam Bộ có hò cống chùa (cúng chùa) hò bản đờn, hò lờ, hò cấy lúa…và theo đề tài nội dung mà đặt tên cho các điệu hò như hò văn, hò thơ, hò truyện, hò tuồng, hò tiểu thuyết, hò thầy chùa, hò quốc sự, hò đối đáp…
Hò đối đáp Bến Tre cũng chia làm ba giai đoạn theo trình tự giống sinh hoạt hò giã gạo Bình Trị Thiên.
Vào đầu là hò rào, dạo để chào mời, thăm hỏi. Sau đó đến hò đối đáp – xe duyên kết bạn. Giai đoạn cuối cùng là hò giã từ - tạm biệt, tiễn đưa và hò hẹn. Hò đối đáp Thanh Phú là sự kết hợp giữa hai thể loại hò và lý, giữa lối hát kể tự sự co dãn vô chừng với lối hát có tiết tấu, khúc triết.
2./ Hò trên sông nước:
Hò trên sông nước hay hò chèo thuyền là một loại dân ca sông nước xuất hiện từ lâu đời trên dải đất Việt Nam, quê hương của nhiều dòng sông từ Bắc vào Nam.

Hò mái nhì
Là loại hò bắt nguồn từ lao động trên sông nước, nó gồm có hai bộ phận là hò và xô (có nơi gọi là dô) tương tự như kể và xô của hò trên cạn. Tiếng xô làm tăng thêm hiệu lực của lao động để vượt sóng gió, khắc phục trở ngại của thiên nhiên.
Ở đồng bằng Bắc Bộ có điệu đò đẩy để dùng vào lúc đẩy thuyền, điệu đò đưa ở Hải Dương để hò lúc hai thuyền gặp nhau, điệu thuyền đi đêm ở Đồ Sơn – Hải Phòng để kể lể.
Ở huyện Gia Khánh – Ninh Bình có hát đò đưa bơi thuyền đi cắt cỏ bãi. Ở Hà Tây cũng vậy. Nói chung hầu hết các tỉnh ở đồng bằng Bắc Bộ đều có hát đò đưa, chỉ có khác nhau chủ yếu về quy định sinh hoạt cho mỗi địa phương. Chẳng hạn như lối hát đò đưa của những người đi đò dọc trên sông Thái Bình, Diêm Điền, Trà Lý…., là một loại dân ca lâu đời của miền biển Thái Bình, hiện nay còn ít người biết đến.
Có một qui định đáng lưu ý là mỗi khi đò dừng lại thì không hát. Trường hợp này giống với trường hợp của lối hát buông trong ví đò đưa Nghệ Tĩnh.
Do đó hình thành hai lối hát: Hát đò đưa đường trường và hát đò đưa bỏ lửng.
Tiếng ơ ở đầu và giữa câu hát gây nên sự chú ý của nhiều người xung quanh tạo thêm tính chất man mác cho nét nhạc. Câu hết chưa trọn vẹn thì bị bỏ lửng giữa chừng. Thuyền cứ đi và mặc cho các thuyền bạn cứ chờ đợi. Muốn nghe giọng hát hay, lời ca lạ nhưng nào có được thưởng thức. Đi một quãng đường dài trên sông bỗng tiếng hát lại cất lên. Đây là tiếng hò đưa thuyền nhẹ nhàng, tiếng hò của nội tâm. Trong trường hợp thuyền bè cùng xuôi ngược qua lại thì nó biến thành lối hát đối đáp tỏ tình của trai gài thuyền này, thuyền khác.
Liên khu V nói chung có hò khoan, hò mái ba, hò mái nhặt. Riêng hò chèo thuyền có ở Quảng nam, hò khiêng xe nước có ở Bình Định.
Sông Thạch Hãn ở Quảng Trị, sông Hương bên cạnh các địa danh như đầm Hà Trung, đầm Cầu Hai và phá Tam Giang ở Huế đều là những nơi nổi tiếng với hò mái nhì và hò mái đẩy. Đây là hai anh em sinh đôi dù có khác nhau về tính chất.
Theo cá nghệ nhân hò thì mái nhì nghe thanh thoát hơn mái đẩy; mái nhì thường trải rộng ra trên sông, còn mái đẩy thì dùng cho lúc thuyền bị mắc cạn hoặc thuyền vượt thác.
Hò mái nhì còn mang cả nội dung hò quốc sự.
“Mái nhì man mác nước sông Hương”. (Tố Hữu)
Điệu hò sông nước trữ tình này chủ yếu chứa đựng nội dung giao duyên, lại còn mang dấu ấn của những thời kỳ lịch sử với nội dung hò quốc sự.
"Chiều chiều nước bến Vân Lâu
Ai ngồi ai câu
Ai sầu ai thảm
Ai thương ai cảm
Ai nhớ ai trông
Thuyền ai thấp thoáng bên sông
Đưa câu mái đẩy chạnh lòng nước non”.
Trong khung cảnh của núi Ngự, sông Hương thủa trước thì “chạnh lòng nước non” như vậy cũng là một điều dễ hiểu.
Hò mái nhì, mái đẩy có lẽ còn bắt nguồn từ xa xưa, xa lắm. Biết đâu có liên quan đến cả thời kỳ đàn đá, trống đồng. Bởi vì “thang âm hò mái đẩy rất gần với thang âm đàn đá và thang âm pêlôc của Inđônêxia qua sự nghiên cứu của Giáo sư Trần Văn Khê”.
Ở Nam Bộ có nhiều sông và lạch với ruộng đồng cò bay thẳng cánh. Ghe thuyền là phương tiện giao thông không thể thiếu đối với nhân dân. Vì vậy mà ở đây có hò chèo thuyền, hò chèo nghe, hò mái cụt, hò mái dài đủ các làn điệu. Chúng thường phản ánh sinh hoạt, tâm tư, tình yêu chung thủy:
“Hò ơ…tay cắt tay sao nỡ…
Ruột cát ruột sao đành!
Một lời thề biển cạn non xanh
Chim kêu dưới suối, vượ hú trên nhành
Qua không bỏ bậu ơ…
Mà sao đành bỏ qua ơ…ơ...”
(Hò miền Đông Nam Bộ)
Và trên sông Hàm Luông có hò mái đoản, hò mái trường. Chỉ căn cứ theo công trình hò Bến Tre của Lư Nhất Vũ và Lê Giang với phạm vi chỉ một tỉnh Nam Bộ cũng đủ thấy sự phong phú về vốn dân ca này.