Người say mê sưu tầm điệu Lượn cọi ở huyện Pác Nặm
Cập nhật, ngày14/03/2011 14:00
Ông Nông Ngọc Sư, thôn Phai Khỉm, xã Nhạn Môn (Pác Nặm) nổi tiếng với các điệu lượn cọi của đồng bào mình. Đầu những năm 2000, tại một đám cưới ở trong xã, hàng trăm người dự lễ cưới đã có dịp thưởng thức phần ngẫu hứng của ông với một người bạn nữ hát đối đáp, đến từ xã khác trong huyện. Các cụ cao niên trong bản đánh giá, đây là một cặp đôi có thể nói là “kì phùng địch thủ” của nhau duy nhất trong huyện Pác Nặm.
 Ông Nông Ngọc Sư thường xuyên sưu tầm và ghi chép lại những điệu Lượn cọi của dân tộc mình. |
Họ hát say sưa liên tục trong hai ngày một đêm, đưa người nghe từ những làn điệu chào hỏi, làm quen, rồi mời rượu, hỏi thăm cuộc sống gia đình, lao động sản xuất... mà bất phân thắng bại. Chúng tôi tìm đến nhà ông Sư ở thôn Phai Khỉm, ngôi nhà sàn quen thuộc của đồng bào Tày bao đời nay, đang vẳng vọng những câu lượn của chủ nhân:
“Chẻn lẩu căm đâư mừ lình chỉ
Mì slương kin sắc ỉ, sắc chang
Bấu lao pỉ nèm tàng noọng đẩy...”
Dịch nghĩa:
“Chén rượu cầm trong tay mời em uống
Thương nhau thì uống ít nhiều một nửa
Đừng sợ anh đi theo đường em về”.
Lời câu hát là vậy, nhưng nó được người thể hiện thực sự làm cho thăng hoa bởi lối hát vừa réo rắt, nhưng lại ngọt ngào tha thiết, làm cho người nghe không thể khước từ lời mời. Chỉ chừng ấy câu hát thôi cũng đủ làm tan biến những mệt nhọc của chúng tôi sau một quãng đường dài đi bộ.
Người đàn ông xấp xỉ ngũ tuần bước xuống cầu thang đón khách, theo lời giới thiệu chúng tôi được biết đấy chính là ông Nông Ngọc Sư, người có sở thích sưu tập và hiện nay đang sở hữu hàng trăm điệu Lượn cọi khác nhau của dân tộc mình. Rót chén trà mời khách, ông Sư bắt đầu câu chuyện yêu làn điệu lượn cọi của dân tộc mình.
Từ hồi còn là thanh niên, mỗi lần đi hội Lồng tồng hay đi dự đám cưới ở địa phương, ông thường bị cuốn hút đến mê mẩn mỗi khi nghe các cụ ngồi hát lượn, những cung bậc cảm xúc trong điệu lượn khiến ông cũng quên ăn, quên ngủ theo. Cứ mỗi lần như vậy, ông ghi chép lại các điệu lượn mà không bỏ sót một bài nào cho đến tận bây giờ. Với ông Sư, bài lượn “Chia tay” là một trong những bài ông thích nhất từ hồi còn là thanh niên, nó thể hiện chiều sâu tình cảm của đôi trai gái trong lần gặp gỡ đầu tiên. Cái thuở ban đầu ấy, tràn đầy sự giận hờn trách móc, những cái gọi là nhớ nhung kín đáo, sự e ấp đến sâu sắc của người con gái và người con trai. Cũng chính từ những câu lượn này, năm xưa đã có biết bao thiếu nữ trong bản thầm thương, trộm nhớ ông. Ông Sư thao thao cất lên vài câu trong bài:
“...Pỉ pết noọng thua cẩu cằn tả
Hết quén bấu pần công pỉ tẻo
Boóc hởi phung nưa kéo giá lởi
Pỉ kết nguộc táng nơi pền lạng...”
Dịch nghĩa:
“Anh chia tay em ở đầu cầu bên suối
Thương nhau không được anh đành quay về
Bông hoa đẹp nở trên đỉnh đèo xin đừng phai tàn
Anh thương em rồi nhưng hai ta mỗi người một nơi”.
Ông sư cho biết thêm, một bài lượn giao duyên chứa đựng nhiều những lời hẹn ước, thề thốt tràn ngập niềm tin hi vọng của tuổi trẻ khao khát tình yêu. Đây là những lời lượn mang tính ngẫu hứng cao, đối đáp tự do theo lối ứng khẩu, tùy theo tình cảnh mà có những lời lẽ thích hợp. Ví như năm xưa, ông gặp đúng bạn hát tại đám cưới ở bản, hai người cứ đối đáp, ứng khẩu với nhau thâu đêm, suốt sáng mà vẫn không hết lời hát.
Khi được hỏi về lâu dài, điệu lợn cọi của mình có bị “thất truyền” không, ông cũng đôi phần lo lắng: “Tôi vẫn đang cố gắng dạy cho con cháu mình các bài lượn cọi, nhưng bởi hiện nay lớp trẻ đa phần đi học đều sử dụng tiếng phổ thông, khi nghe lượn chỉ thấy giai điệu câu hát hay, chứ không cảm thụ được ý nghĩa sâu sắc của điệu lượn. Cứ như vậy, đời này sang đời khác chắc chắn sẽ không còn lượn cọi ở địa phương mình nữa”.
Mong muốn lớn nhất của ông Sư hiện này, là các cấp chính quyền ở địa phương cần đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền, nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa phi vật thể của đồng bào các dân tộc trên địa bàn, trong đó có điệu lượn cọi của dân tộc Tày, Nùng. Để lượn cọi mãi là hình thức sinh hoạt văn hóa đặc sắc, được cộng đồng các dân tộc Tày, Nùng sáng tạo, lưu truyền, hát và thưởng thức, tồn tại với cuộc sống sinh hoạt, lao động sản xuất của đồng bào mình./.
(BacKan Online)