Múa tín ngưỡng
Cập nhật, ngày14/08/2009 11:18
Múa tín ngưỡng được tồn tại và phát triển trong đời sống văn hoá tâm linh của nhân dân, thể hiện trong các nghi lễ, phong tục, tập quán của từng cộng đồng người.
 
Múa tín ngưỡng thường được sử dụng trong các dịp như : Múa bỏ mả, múa cúng ma, múa chữa bệnh (trong then), múa lễ thần thổ địa, múa lễ thần ngư thần hà bá, múa lễ thần nông, múa lễ thần nước, múa lễ thần rừng, múa lễ thần vía lúa, múa tang ma, múa trừ ma … Múa tín ngưỡng thường được thực hiện bởi các thầy mo, thày cúng.

1. Múa tín ngưỡng dân tộc Việt (hay người Kinh)

 Dân tộc Việt có số dân chiếm tỉ lệ lớn ở Việt Nam so với các dân tộc khác. Phần lớn họ theo đạo Phật, thờ cúng ở các đình, chùa, miếu, gia thất.Tín ngưỡng tôn giáo sử dụng nghệ thuật múa có thể nói là một phương tiện, một công cụ đắc lực và có hiệu quả. Múa “Hầu bóng” (hay múa lên đồng) là một hình thức của múa tín ngưỡng dân tộc Việt – nghi lễ chính của sinh hoạt tín ngưỡng đạo mẫu, tồn tại và phát triển cùng quá trình hình thành tục thờ mẫu. Múa hầu bóng tồn tại ba loại, tuỳ theo môi trường mà tách bạch ra từng loại hay đan cài các loại đó với nhau
 
Loại múa theo giá đồng

 - Múa giá quan đệ nhất Thượng Thiên (Liễu Hạnh)

- Múa giá quan đệ nhị thượng ngàn

- Múa giá quan đệ tam Thoải cung

- Múa giá ông Hoàng Mười, Hoàng Bảy, Hoàng Ba

- Múa giá cô Bơ Thoải

- Múa giá Cậu

- Múa giá cô Bé

- Múa có vị thánh làm quan lớn (múa võ)

- Múa giá Ngũ Hổ

- Múa giá ông Lốt

- Múa giá mẫu Thượng Ngàn

- Múa giá cậu Hoàng múa sư tử …

Mỗi giá tương ứng với một vị thánh. Hầu bóng có 36 giá tương ứng với 36 vị thánh. Mỗi vị thánh có trang phục, lời hát chầu khác nhau ứng với từng vị thánh, từng giá đồng.
 
Loại múa với đạo cụ

 - Múa gậy : có quả nhạc con bằng đông

- Múa quạt : quạt lông các màu trắng, xanh, đỏ, vàng

- Múa chèo : mái chèo

- Múa thêu hoa

- Múa khăn

- Múa cờ

- Múa kiếm

- Múa cung

- Múa dâng nhang (khai quang)

- Múa dâng đèn

- Múa khăn

- Múa dâng rượu …

 Loại múa tay không

- Múa bắt quyết

- Múa ra ấn

- Múa tung nước thánh

- Múa ban lộc

Trang phục : Người lên đồng có nhiều nhân vật khác nhau nên có những trang phục theo nhân vật của 36 giá đồng.

Trong năm thường diễn ra nhiều dịp hầu đồng như

Tháng giêng : Lễ hầu thượng ngàn

Tháng tư : Lễ hầu nhập hạ

Tháng bảy : Lễ tán hạ

Tháng chạp : Lễ tất niên

2. Múa tín ngưỡng dân tộc Mường

Dân tộc Mường cùng gốc với dân tộc Việt, cùng thuộc ngữ hệ Môn - Khơme. Dân số hiện nay khoảng gần một triệu, sống chủ yếu ở Hoà Bình (Trên 75%), Thanh Hoá, Phú Thọ.v.v... trên các cánh đồng rộng như Mường Bi, Mường Vang, Mường Thàng, Mường Ðộng, Ngọc Lạc, Cẩm Thuỷ...

Tục thờ cúng Tổ Tiên có tính phổ biến. Khi có người chết, họ tổ chức "đám hiếu" một nghi thức tang lễ kéo dài 12 ngày có đánh trống, đánh chiêng, thanh la, bắn súng, có thầy tu đọc bài mo (thường là một bài mo giải thích và một bài mo dẫn đường).

Trong năm, người Mường cũng tổ chức hội hè vui chơi, nhảy múa. Các ngày hội chủ yếu có ý nghĩa nông nghiệp như Hội xuống Ðồng, Hội cầu mưa, Lễ rửa lá lúa, Tết cơm mới.

Múa là một trong những thành tố không thể thiếu được trong hình thức diễn xướng và quá trình tiến hành các nghi lễ, luật tục của dân tộc Mường. Múa trong các nghi lễ Mỡi – Mo - Sắc bùa là điệu múa điển hình của dân tộc Mường.

Múa trong Mỡi

Mỡi là một luật tục tín ngưỡng dân gian với hình thức diễn xướng tổng hợp trong sinh hoạt văn hoá Mường, gồm các loại hình nghệ thuật như : nhạc, múa, hát, văn, thơ, nghi lễ …Mỡi là một tục cúng lễ linh hồn người chết trẻ chưa có gia đình, khi chết thành ma mỡi. Ma Mỡi là ma lành, có lòng vị tha, nhân ái …Múa mỡi do người đóng vai điều khiển (gần với lên đồng của người Việt). Múa Mỡi là hình thức liên kết một số điệu múa có nội dung và trình tự nhất định như : Múa dâng hương, múa chàm ống (đâm ống), múa roi, múa tung còn, múa khăn, múa kiếm, múa chàm thau (đánh trống đồng).

Mỡi chủ yếu tổ chức vào đêm 30 và mồng 1, 2, 3, 4, 5 tết âm lịch (quan trọng là đêm 30 và mồng 1 tết) với mục đích chúc tụng năm mới và cầu mong sự tốt lành.

Múa trong Mo

Mo là hình thức diễn xướng nghi lễ có vai trò quan trọng trong đời sống của cộng đồng người Mường, nhất là trong luật tục tang lễ. Trong diễn xướng mo, thầy mo đóng vai trò quan trọng, là người am hiểu thành thạo các luật tục và có tài đọc thơ, ca, múa, nhạc.
 
Múa trong Sắc Bùa

Sắc bùa là một hình thức sinh hoạt văn hoá độc đáo của người Mường, có vai trò quan trọng trong đời sống văn hoá xã hội của nhân dân. Đây là hình thức diễn xướng có tính nghi lễ, đó là phường, hội cồng chiêng, phường hội sắc bùa, dàn sắc bùa.

3. Múa tín ngưỡng dân tộc Tày

 Dân tộc Tày là dân tộc có số dân đứng thứ hai (sau dân tộc Việt) trên dải đất Việt Nam.

Lễ hội “Lồng tồng” là lễ hội tiêu biểu của người Tày, vào ngày mồng 3 và mồng 4 tết nguyên đán. Đây là lễ hội cúng thần nông (vị thần cai quản ruộng đồng) đồng thời là một điểm sáng, đặc sắc của sinh hoạt văn hoá cộng đồng của người Tày. Sau nghi lễ thờ cúng là sinh hoạt văn hóa với các điệu múa như : Múa tung còn, múa sư tử,  múa xoè chiêng, múa giã cốm (giã gạo), múa then…

Múa then là điệu múa tín ngưỡng tiêu biểu cho dân tộc Tày. Múa then là hình thức diễn xướng tổng hợp gồm nhiều loại hình nghệ thuật như thơ, hát, múa…

4. Múa tín ngưỡng dân tộc Thái

Người Thái có nền văn hóa, văn nghệ sớm được hình thành, ngôn ngữ thuộc nhóm ngữ hệ Tày – Thái

“Kin pang then” là điệu múa tín ngưỡng tiêu biểu của người Tày. Nguồn gốc ra đời của điệu múa này là ca ngợi tình yêu mãnh liệt của chàng trai cô gái Thái (chàng Bồng Hương và nàng Ờm).

Nhạc cụ đệm cho múa có đàn tính, trống, quả nhạc và khèn bè.

5. Múa tín ngưỡng dân tộc Dao

Người Dao ở Việt Nam có nguồn gốc từ Trung Quốc di cư đến Việt Nam từ rất lâu (có thể từ TK III). Người Dao có các điệu múa như

- Múa trong đám cưới : có 14 điệu nhạc, trong các điệu nhạc này đều có phần múa minh hoạ hay múa chính

- Múa trong đám tang

Các điệu múa trong đám tang không được múa trong sinh hoạt đời thường vì quan niệm cho rằng hồn người chết sẽ theo tiếng nhạc, điệu múa về quấy rối giai đình

Có các điệu múa như : Múa quanh thi hài tại nhà, Múa quanh huyệt ngoài nghĩa địa, Múa cúng hồn khi về nhà

- Múa cúng bàn vương (chầu đàng)

- Múa tết nhẩy (nhìang chằm đao)

Các nhạc cụ đệm cho múa gồm trống, chuông và kèn

6. Múa tín ngưỡng dân tộc Chăm

Từ xa xưa, các thần linh đã hình thành trong ý niệm của mỗi người dân Chăm. Mỗi vị thần đều có múa, nhạc, hát , đàn để cúng lễ. Lễ hội Chà là một lễ hội lớn, quan trọng trong sinh hoạt văn hóa cộng đồng của người Chăm. Trong lễ hội có điệu múa tiêu biểu là “Múa vãi chài” - biểu dương chiến công trên biển của người Chăm.

Các điệu múa tín ngưỡng dân tộc chăm : Múa gậy, múa roi, múa nhẩy lửa…

Các nhạc cụ đệm cho múa gồm trống Ghì nằng, sáo Saranai, trống Paranưng

7. Múa tín ngưỡng dân tộc Khơme

Người Khơme sống ở vùng tây đồng bằng sông Cửu Long (Nam bộ) với nghề trồng lúa nước.Trong các lễ hội của người Khơme có những điệu múa tín ngưỡng như

- Múa trong lễ cúng trăng : Múa thầy cúng, Múa trống lễ cúng trăng, Múa dâng bông (Slatho), Múa đua ghe ngo (Um tuk ), Múa đua ghe ngo cạn (Um tuk lơ kôk), Múa gà, Múa người khổng lồ, Múa ngựa, Múa khỉ

- Múa trong lễ năm mới (Phithi Chôl Chnam Thmây) : Múa đào ao đắp núi

- Múa trong Cứng Neakta và Arăk : Múa cúng Neakta, Múa cúng Arăk

- Múa trong tang lễ (Bon sập)

- Múa trong đám cưới (Phithi-Apea-Pipêan) : Múa mở rào, Múa buộc chỉ cổ tay, Múa rắc hoa cau, Múa quét chiếu, Múa cắt tóc

Các nhạc cụ đệm cho múa gồm Trôsolea (nhị trung), Trôsô (nhị trầm), Sôkôphlèng (trống cổ bịt da), Khưm (giống kiểu đàn nguyệt), Krap (phách tre), Khlui (sáo trúc), Ruet êk, ru et thung, Kông thom và Kông tôết (cồng lớn và cồng nhỏ)…

8. Múa tín ngưỡng dân tộc Chơro

Người chơro sống ở phía đông nam bộ, ngôn ngữ thuộc ngữ hệ Môn-Khơme.

Các điệu múa tín ngưỡng dân tộc chơro : Múa mừng lúa mới, Múa siêu thoát, Múa bóng-Spăm Tăm Vly, Múa đội bát, Múa thầy cúng (Spăm chn’hau), Múa lễ tạ ơn.

 Nhạc cụ đệm cho múa gồm Cồng, chiêng, quả nhạc và Tà Ló (một loại nhạc cụ gõ).
 
(Theo GĐVN)