Đàn Tranh
Cập nhật, ngày09/11/2009 15:04

Đàn tranh có 16 dây, là nhạc cụ bộ dây chi gảy của người Việt. Ngoài tên gọi đàn tranh đàn còn có tên gọi là đàn 16 dây, đàn thập lục.

- Thân đàn hình hộp dài khoảng 100 - 117 cm . Đầu đàn lớn rộng khoảng 20 – 26 cm, đầu đàn nhỏ rộng khoảng 16 – 20 cm. Hai bên thành đàn làm bằng gỗ cứng, có thể khảm trai.

- Mặt đàn làm bằng gỗ xốp, nhẹ, hơi vồng lên. Trên mặt đàn có hàng nhạn 16 cái đặt chéo, có chức năng chỉnh độ cao thấp của âm thanh. Phía đầu hẹp có 16 trục lên dây bằng gỗ cắm trên mặt đàn thành một hàng chéo.

- Đáy đàn làm bằng gỗ nhẹ, xốp. Phía đầu rộng có một lỗ hình bán nguyệt dùng để mắc dây đàn, phía đầu hẹp có một lỗ nhỏ dùng để treo đàn vào đinh mỗi khi cất đàn, ở giữa có khoét một lỗ hình chữ nhật có tác dụng để cầm đàn mỗi khi đi lại.

- Cầu đàn được làm bằng gỗ cứng, hơi nhô lên một chút phía đầu rộng, uốn cong theo mặt đàn trên có 16 lỗ nhỏ để mắc dây đàn.

- Dây đàn bằng nilon hay lim loại.

- Móng đàn làm bằng đồi mồi, nhựa hay inốc.

- Đàn tranh có âm vực ba quãng 8

Khoảng âm trầm : âm thanh không được trong trẻo, thường dùng để đánh đệm.

Khoảng âm trung : âm thanh trong sáng, giàu sức diễn tả, vui tươi.

Khoảng âm cao : âm thanh hơi gắt, thường dùng để đánh ngón Á.

Tư thế diễn tấu : Đàn được kê lên giá đàn hay một đầu đàn được đặt vào đùi, một đầu đàn được kê trên giá hoặc đôn.Tư thế ngồi phải tự nhiên, thoải mái, đàn đặt sát người, hai cánh tay nâng mềm mại trên mặt đàn

Cách mắc dây đàn : Đàn tranh có 16 dây kim khí, mỗi dây là một âm, được sắp xếp theo hệ thống thang âm ngũ cung. Khi mắc dây vào đàn chỉ cần dùng đoạn dây vừa đủ, căng từ đinh mắc dây đến trục và thừa đôi chút để có thể cuốn chặt vào trục. Tránh để dây thừa quá nhiều làm trục dễ bị nứt và bị trùng. Loại dây dùng phổ biến là dây sắt nhỏ.

Cách lên dây đàn : Đàn tranh có nhiều kiểu lên dây. Tuỳ theo yêu cầu của từng bản nhạc để chọn kiểu lên dây thích hợp. Một số kiểu lên dây thường gặp

1.       Đồ - Rê – Fa – Sol – La (Đồ - Rê – Mi – Sol – La)

2.       Sol – La – Đô – Rê – Mi (Sol – La – Đô – Rê – Fa)

3.       Đô – Mi – Fa – Sol – La (Đồ - Rê – Fa – Sol – La)

Kỹ thuật tay phải :

Móng gẩy được đeo vào ba ngón : Ngón 1 (ngón cái), ngón 2 (ngón trỏ), ngón 3 (ngón giữa).

Móng đeo chặt, sát ngón tay, không sâu quá, cách khoảng 1 cm từ đầu ngón tay tới đây.

Bàn tay phải nâng lên, ngón tay khum lại, thả lỏng, ngón áp út tì nhẹ lên cầu đàn.

Khi đánh những dây ở âm khu trầm, cổ tay tròn lại, hạ dần về phía đuôi đàn. Khi đánh những dây ở âm khu cao, cổ tay hạ dần theo chiều cong của cầu đàn, cánh tay cũng hạ khép dần lại (tránh không đưa cánh tay ra phía ngoài)

Ba ngón tay gảy mềm mại, từng ngón thả lỏng này nhẹ nhàng nâng lên hay hạ xuống gảy vào dây theo chiều cong tự nhiên của bàn tay (tránh gãy ngón, móc dây). 

Ngón Á : là một lối gảy rất phổ biến của Ðàn Tranh, đây là cách gảy lướt trên hàng dây xen kẽ các câu nhạc, thường ngón Á hay ở vào phách yếu để chuẩn bị vào một phách mạnh đầu hay cuối câu nhạc.

Á xuống : theo lối cổ truyền, Á xuống là gảy liền các âm liền bậc, từ một âm cao xuống các âm thấp, tức là sử dụng ngón cái của tay phải lướt nhanh và đều qua các hàng dây, từ cao xuống thấp.

Á lên : là kỹ thuật lướt qua hàng dây, nhưng vuốt bằng ngón 2 hoặc ngón 3 từ một âm thấp lên các âm cao.

Á vòng : kết hợp Á lên và Á xuống, Á vòng thường chuẩn bị cho mở đầu hoặc kết thúc một câu nhạc, có trường hợp nó được sử dụng để tả cảnh sóng nước, gió thổi, mưa rơi và có thể sử dụng ngón Á vòng liên tiếp với nhiều âm hơn.

Song thanh : 2 nốt cùng phát ra một lúc, song thanh truyền thống chỉ dùng quãng 8, các nhạc sĩ hiện đại còn kết hợp dùng các quãng khác.

Ngón vê : là sử dụng ngón tay phải ngón 2 hoặc kết hợp ngón 1-2; 1-3; 1-2-3, gảy trên dây liên tục và các ngón khác phải khum tròn, cổ tay kết hợp với ngón tay đánh xuống, hất lên đều đặn. Khi vê đầu móng gảy không nên đặt quá sâu xuống dây sẽ tạo tiếng đàn không đều đặn, êm ái.

Kỹ thuật tay trái: Tay trái có các ngón nhấn, rung, mổ, vuốt...

Ðầu ba ngón tay giữa đặt trên dây nhẹ nhàng, bàn tay mở tự nhiên, ngón tay hơi khum, hai hoặc ba ngón (trỏ, giữa, áp út) chụm lại, ngón cái và ngón út tách rời, dáng bàn tay vươn về phía trước.

Khi rung, nhấn, bàn tay được nâng lên mềm mại, ba ngón chụm lại cùng một lúc chuyển từ dây nọ sang dây kia (tránh tách từng ngón).

Ngón rung : là cách dùng một, hai hoặc ba ngón tay trái rung nhẹ trên sợi dây đàn (bên trái hàng nhạn đàn) mà tay phải vừa gảy.

Ngón nhấn : là ngón sử dụng để đánh thêm được những âm khác có thể là 1/2 âm, 1/3 âm, 1/4 âm mà hệ thống dây Ðàn Tranh không có. Cách nhấn là sử dụng ba đầu ngón tay trái nhấn xuống tùy theo yêu cầu của bài (nửa cung nhấn nhẹ, 1 cung nhấn nặng hơn) người chơi đàn dùng tai nghe để điều chỉnh tay nhấn.

Ngón nhấn luyến : là ngón sử dụng các ngón nhấn để luyến hai hay ba âm có độ cao khác nhau, âm thanh nghe mềm mại, uyển chuyển gần với thanh điệu tiếng nói. Có hai loại nhấn luyến

Nhấn luyến lên : gảy vào một dây để vang lên, tay trái nhấn dần lên dây đó làm âm thanh cao lên hoặc tiếp tục nhấn cho cao lên nữa.

Nhấn luyến xuống : muốn có âm luyến xuống, trước hết phải mượn nốt. Ví dụ muốn có âm Fa luyến xuống âm Rê phải mượn dây Rê nhấn mạnh trước rồi mới gảy sau; khi âm Fa ngân lên ngón tay trái nới dần để âm Rê của dây đó vang theo luyến tiếng với âm Fa.

Ðánh âm nhấn luyến lên hay nhấn luyến xuống chỉ cần gảy một lần thôi. Ðộ ngân của các âm nhấn luyến được ghi như các nốt nhạc bình thường.

Người chơi đàn cần phân phối thời gian để các âm có thể đều hoặc không đều nhau, độ cao của âm nhấn luyến lên hay nhấn luyến xuống có thể trong vòng quãng 4 nếu là khoảng âm thấp hoặc quãng 2, quãng 3 thứ ở những âm cao, không nên sử dụng liên tiếp nhiều âm nhấn luyến.

Ngón nhún : là cách nhấn liên tục trên một dây nào đó làm cho âm thanh cao lên không quá một cung liền bậc. Ngón tay nhún tạo thành những làn sóng có giao động lớn hơn ở ngón rung, làm cho âm thanh thêm mềm mại, tình cảm sâu lắng.

Ngón vỗ : là một kiểu ngón nhấn như đúng như tên gọi, đây là cách dùng hai hay ba đầu ngón tay (ngón trỏ, giữa, áp út) vỗ lên một dây nào đó phía bên trái nhạn đàn vừa được gảy và nhấc ngay các ngón tay lên làm âm thanh cao lên đột ngột từ nửa cung đến một cung. Có hai loại vỗ

- Vỗ đồng thời : tức là cùng lúc tay phải gảy dây, tay trái vỗ sẽ nghe thấy hai âm : một âm phụ cao hơn nửa cung hoặc 1 cung luyến nhanh ngay xuống âm chính (âm phụ do ngón tay trái vỗ tạo nên).

- Vỗ sau : tay phải gảy dây xong, tay trái mới vỗ lên dây, như vậy sẽ nghe thấy 3 âm luyến : âm thứ nhất do tay phải gảy lên dây, âm thứ hai do ngón vỗ tạo nên, âm này cao hơn âm thứ nhất khoảng nửa cung hoặc 1 cung tiếp đó là âm thứ ba do ngón tay vỗ xong nhấc lên ngay, dây đàn được trở lại trạng thái cũ, âm thanh còn lại vang lên theo độ căng của dây đó lúc đầu.

Ngón vuốt : tay phải gảy đàn tiếp theo dùng hai, ba ngón tay trái vuốt lên dây đàn đó từ nhạn đàn ra trục dây hay ngược lại làm tăng sức căng của dây một cách đều đều, liên tục. Âm thanh được nâng cao dần lên trong phạm vi 1/2 cung đến 1 cung.

Ngón gảy tay trái : để thay đổi màu sắc, đồng thời phát huy khả năng diễn tấu của đàn Tranh, ngón tay trái cũng có thể gảy dây trong phạm vi phía bên tay phải hàng nhạn đàn. Tay trái không đeo móng gảy nên khi gảy âm thanh nghe êm hơn nhưng không vang bằng âm thanh tay phải gảy. Có thể gảy bằng hai tay để tạo chồng âm nhưng thường là tay trái gảy những âm rải trong khi tay phải sử dụng ngón vê hoặc đang nghỉ.

Ngón bịt : là ngón vừa sử dụng ngón tay phải gảy dây, vừa dùng đầu ngón tay trái đặt nhẹ trên dây đàn hoặc chặn tay trái lên đầu nhạn đàn nếu là gảy một nốt nhạc. Nếu định gảy hẳn một đoạn nhạc với toàn âm bịt, người chơi đàn sử dụng cạnh bàn tay phải chặn nhẹ lên cầu đàn, dùng tay trái gảy thay tay phải. Hiệu quả âm thanh ngón bịt không vang mà mờ đục, gây được ấn tượng tương phản rõ rệt với một đoạn nhạc đánh bình thường.

Âm bồi : có thể đánh trên tất cả các dây nhưng chỉ nên đánh trong khoảng âm giữa, âm dưới và nên đánh những âm bồi quãng tám. Cách đánh là sử dụng ngón tay trái chặn vào đoạn dây thích hợp kể từ đầu đàn trong khi tay phải gảy dây đó. Âm bồi Ðàn Tranh nghe đẹp hơn hẳn so với nhiều loại đàn dây gảy khác.

Vị trí Ðàn Tranh trong các Dàn nhạc    

Đàn Tranh thường được sử dụng để đệm cho ngâm thơ, hát, tham gia trong các Dàn nhạc Tài tử, Phường Bát âm, Dàn Nhã nhạc (khi sử dụng trong Tế lễ), Dàn nhạc Sân khấu Chèo, Cải lương. Ngày nay đàn Tranh được sử dụng rộng rãi như : độc tấu, song tấu, tam tấu, Ðàn Tranh còn được đưa vào Dàn nhạc Dân tộc Tổng hợp độc tấu và đặc biệt Ðàn Tranh được đưa vào độc tấu cùng với Dàn nhạc Giao hưởng (Concerto cho Ðàn Tranh và Dàn nhạc Giao hưởng của GSTS.Quang Hải ).

 
(Theo Giai điệu xanh)