Dàn nhạc đám cưới người Dao
Cập nhật, ngày10/08/2009 09:31
Dàn nhạc đám cưới của người Dao gồm có 3 loại nhạc cụ là 2 chiếc Nom Dặt (người Tày, Nùng, Thái gọi là Pí lè), một chiếc Nom Đủ (trống dẹt) và một cái Nom Lò (chiêng).
 |
Nom Dặt là nhạc cụ họ hơi chi dǎm kép, gồm các bộ phận:
- Ống kèn là một thân gỗ rỗng lòng, dài khoảng 25 - 30 cm, một đầu nhỏ, đầu kia to dần. Trên thân ống có 7 lỗ bấm thẳng hàng gần như đều nhau ở mặt trước và 1 lỗ phía sau gần đầu ống.
- Loa kèn làm bằng đồng, đường kính khoảng 13 cm gắn vào phần đầu to phía dưới của ống kèn. - Cọc dǎm và dǎm kèn, phía trên ống kèn (đầu nhỏ) cắm một ống kim loại nhỏ làm cọc dǎm, trên cọc dǎm cắm một cái dǎm làm bằng tổ sâu bóp bẹp để thổi.
Âm vực của Nom dặt trải 2 quãng tám. Khi chơi người thổi hai tay cầm dọc kèn thổi, các ngón tay đặt vào các lỗ bấm.
Nom Đủ là nhạc cụ họ màng rung chi gõ hình tròn dẹt. Thân trống làm bằng khúc gỗ ngắn khoét rỗng bên trong, cao khoảng 14,5 cm, đường kính khoảng 25 cm. Hai mặt trống đều bịt da, ghim vào thân trống bằng những chiếc đinh tre. Dùi trống cũng làm bằng tre. Người chơi có thể đánh vào cả hai mặt trống thay đổi nhau.
Nom Lò là nhạc cụ tự thân vang chi gõ, chất liệu đồng thau kích thước trung bình, đường kính khoảng 30 - 40 cm, thành cao 12 - 14 cm. Dùi làm bằng gỗ để trần hoặc bọc vải ở một đầu. Khi chơi người chơi cầm dùi gõ vào mặt trên của Nom lò.
Các nhạc công chơi trong dàn nhạc đám cưới của người Dao đều là nam giới. Trong đám cưới người Dao không có hát mà chỉ tấu dàn nhạc. Dàn nhạc không chỉ tấu lên để gây không khí vui nhộn, tưng bừng mà còn giữ vai trò quan trọng trong các diễn biến nghi thức phong tục truyền thống. Có thể kể một số bài nhạc chính chơi trong các nghi lễ đám cưới của người Dao như sau:
- Bài nhạc đón dâu
- Bài nhạc mời khách ngồi
- Bài nhạc mời dâu, mời rể ngồi
- Bài nhạc mời ǎn cơm, mời uống rượu
- Bài nhạc tiễn khách v,v...
Trong dàn nhạc có sự phân công chức nǎng: Hai chiếc Nom Dặt chơi đồng âm, đảm nhận phần giai điệu. Nom Đủ (trống dẹt) chơi giữ nhịp và chuyển tiết tấu. Còn Nom Lò (chiêng) điểm dẫn tiết tấu, điểm mầu sắc tiết tấu khi đảo phách, khi đơn lẻ, khi dồn dập, độc đáo làm tǎng sự hấp dẫn cho dàn nhạc.
(Theo ÂNTTVN)