Đàn Đoản
Cập nhật, ngày10/09/2009 14:27

Đàn Đoản có bốn dây, là nhạc khí thuộc bộ dây chi gảy của người Việt. và một số dân tộc ít người ở miền Bắc Việt Nam. Tương tự với Ðàn Ðoản, người H' Mông có Thà Chìn, người Lô Lô có Zèn Xìn, hộp đàn mỏng hơn, có vẽ hoa và khoét lỗ thoát âm.

 

Thùng đàn hình tròn. Mặt đàn và đáy đàn để mộc được làm bằng gỗ mỏng, nhẹ, bịt kín (không có lỗ thoát âm) có đường kính khoảng 35 cm. Trên mặt đàn có 8 phím bằng tre (gắn theo thang bảy bậc chia đều) và ngựa đàn để mắc dây. Thành đàn làm bằng gỗ cứng thấp khoảng 7 cm.

Cần đàn làm bằng gỗ cứng, dài khoảng 20 cm trên có gắn 2 phím bằng tre.

Dây đàn bằng tơ se hay nilon, lên dây theo quãng 5 đúng (Sol, Sol, Rê, Rê).

Trục lên dây được làm bằng gỗ cứng (có 4 trục lên dây) xuyên qua 4 lỗ phía trên cần đàn.

Móng gảy đàn bằng nhựa hay đồi mồi.

Đàn đoản có âm vực trên hai quãng 8.

Âm thanh đàn đoản thanh, tươi sáng, hơi đanh.

Tư thế diễn tấu :  ngồi xếp chân trên chiếu hay ngồi trên ghế cao khoảng 60 cm.

Đàn đoản được dùng trong dàn nhạc bát âm hay sân khấu cải lương, tuồng.

Kỹ thuật tay phải : Nhạc công để móng tay dài, sử dụng ngón cái và ngón trỏ để gảy, hiện nay phổ biến nhất là sử dụng miếng gảy.

Ngón gảy : Là dùng miếng gảy đánh vào dây từ trên xuống, ký hiệu là chữ U ngược. Ngón hất : là sử dụng miếng gảy hất từ dưới lên, ký hiệu chữ V

Ngón vê : Dùng miếng gảy đánh xuống và hất lên liên tục, nhanh và đều, ký hiệu 3 gạch chéo ở đuôi nốt. Vê làm cho tiếng đàn vang đều từ đầu đến hết độ ngân của nốt nhạc, làm cho nốt nhạc thêm sinh động, giàu sức biểu hiện, được sử dụng rất nhiều.

Kỹ thuật tay trái : Có ngón vê, ngón vuốt, ngón nhấn, ngón láy, đánh chồng âm. Ðàn Ðoản có khả năng diễn tấu nhanh, rất linh hoạt.

Ngón nhấn : Tạo cho hai âm nối liền nhau, luyến với nhau nghe mềm mại như tiếng nói với nhiều thanh điệu, tình cảm. Khi đánh ngón tay phải chỉ gảy một lần, ký hiệu ngón nhấn là mũi tên đi vòng lên hay vòng xuống đặt từ nốt nhấn đến nốt được nhấn tới.

Ngón láy  : Còn gọi là ngón vỗ, thường dùng ngón 1 bấm cung phím, tay phải gảy đàn, khi âm thanh vừa phát lên sử dụng ngón 2 hoặc cả hai ngón 2 và ngón 3 vỗ vào dây trên cùng một cung phím liền bậc ngay ở dưới cần đàn, âm mới này sẽ cao hơn âm chính một cung liền bậc (điệu thức ngũ cung). Âm thanh ngón láy nghe gần như tiếng nấc, diễn tả tình cảm xao xuyến.

Ngón láy rền : là tăng cường động tác của ngón láy cho nhanh và nhiều hơn với sự phối hợp vê dây của tay phải, sử dụng chữ tắt của Trille và hai gạch chéo ở trên hoặc ở dưới nốt nhạc (nếu là nốt tròn) hay trên đuôi nốt nhạc.

Ngón vuốt  : Là cách vuốt dây của tay trái trong khi tay phải không gảy, không vê, không phi, âm thanh các ngón vuốt xuống phát ra nhỏ, yếu nhưng không thể dùng trong hòa tấu. Do vậy các âm vuốt thường xen kẽ với các âm gảy, vê hay phi để có thể thừa hưởng dư âm của các âm ấy. Ký hiệu ngón vuốt là dùng gạch nối giữa hai nốt.

Vuốt có vê : dùng gạch nối giữa hai nốt đồng thời gạch hai gạch chéo ở nốt nhạc có đuôi, nếu nốt nhạc không có đuôi thì gạch hai gạch chéo ở trên hoặc ở dưới nốt.

Vị trí Ðàn Ðoản trong các Dàn nhạc

Đàn Ðoản thường được sử dụng tham gia trong Phường Bát âm, Dàn nhạc Sân khấu Tuồng, Cải Lương.

 
(Theo GĐX)