Dân ca quan họ Bắc Ninh
Cập nhật, ngày14/08/2009 09:15

Hát Quan họ (hay Quan họ Bắc Ninh) là "đặc sản" dân ca của người Việt ở tỉnh Bắc Ninh, bắt nguồn từ những lối hát đối đáp nam nữ có từ rất lâu đời.

Hát Quan họ chủ yếu chỉ được tổ chức ở mỗi làng mỗi năm một lần vào dịp hội làng, Nó gắn với tục kết bạn nam nữ, kết nghĩa giữa hai làng khác nhau. Ngoài một bộ phận nhỏ mang nội dung chúc tụng, khẩn cầu, đại bộ phận các bài ca mà các anh Hai, chị Hai Quan họ (cách gọi nhau theo truyền thống) đối đáp với nhau đều mang nội dung giao duyên trữ tình rất thắm thiết. Tuy nhiên, theo tập tục cổ truyền trai gái trong các nhóm kết bạn hát với nhau lại không bao giờ lấy nhau.

 

Các cuộc Hát Quan họ có thể diễn ra ở trong nhà cũng như ngoài trời. Phương thức sinh hoạt ở các làng khá đa dạng, song nhìn chung, ngoài một số nét khác biệt, trong Hát Quan họ chứa đựng cả những nét có ở nhiều thể loại hát đối đáp nam nữ của các tộc trên đất nước.

I/ Những làn điệu trong một buổi hát Quan họ

 

Đến nay, việc thống kê có bao nhiêu làn điệu trong nghệ thuật hát Quan họ vẫn chưa có một sự thống nhất về số lượng. Từ Hội nghị Quan họ lần thứ nhất (tháng 3/1965) người ta ước đoán có khoảng 4 - 5 trăm bài hát, nhưng nếu tính những làn điệu (khi đã trừ ra những dị bản) thì con số này chỉ ở mức trên dưới một trăm.

 

Trong Quan họ - nguồn gốc và quá trình phát triển, Đặng Văn Lung, Hồng Thao và Trần Linh Quý cho rằng số lượng làn điệu của dân ca Quan họ từ 170 đến 180. Tư liệu nghiên cứu gần đây nhất là của Hồng Thao và Trần Linh Quý trong Tìm hiểu dân ca Quan họ thì số lượng làn điệu mà "ngày nay chúng ta có thể khai thác" là 174.

 

Tuy nhiên trong những buổi hát Quan họ, không phải các liền anh liền chị hát tất cả những làn điệu đó. Tuỳ thuộc vào bối cảnh sinh hoạt cụ thể và một phần sở thích cá nhân mà một số làn điệu được sử dụng. Nhưng tựu trung trong một buổi hát Quan họ các làn điệu được chia ra làm 3 loại giọng là : Giọng Lề lối, giọng Vặt và giọng Giã bạn.

 

Chữ "giọng" trong dân ca Quan họ cũng bao gồm nhiều ý nghĩa khác nhau như : âm sắc của giọng hát mỗi người, âm điệu chung của nhiều bài hát có phần lời khác nhau, chỉ chung  một số âm điệu của nhiều bài hát, âm điệu phụ mở đầu cho âm điệu chính, nhiều âm điệu khác nhau trong một bài hát...  "Giọng" mà chúng ta nói đến trong tiến trình của một buổi hát Quan họ có nghĩa đó là những bài hát được sử dụng trong tiến trình một buổi hát.

 

1. Giọng Lề Lối

 

Mở đầu cuộc hát thi Quan họ bao giờ cũng bắt đầu bằng giọng Lề lối (hay còn gọi là giọng Cổ). Hiện nay, nhiều người đồng ý rằng giọng Lề lối có tất cả 36 bài hát. Ở làng Diềm (Viêm Xá) có truyền tụng một bài thơ lục bát (gồm 26 câu) đề cập đến tựa đề 36 bài hát của giọng Lề lối. Chúng ta có thể kể ra 36 bài hát đó như sau : Hừ la, Tôi rằng, Bạn lan, Tình tang, Ô tình, Gạo ngang, Gạo dọc, Cái hừng, Cơm vàng, Chiền chiện, Thơ đúm, Đàn đúm, Phong thư, Cầm bằng, Tình rằng, Đi cấy, Ngâm thơ, Năm canh, Phú dọc, Mười cung, Năm cung, Giọng Huế, Ta lý, Hãm, Quỳnh, Đào nương, Ru hời, Giọng lý, Sênh tiền, Buôn bông, Con mắm, Bẻ quạt, Ông giăng, Liện trang, Ca răng, Lá.

 

Về số lượng của các bài hát trong giọng Lề lối ở mỗi buổi hát cũng khác nhau, có nơi hát 10 câu (10 trên - 10 dưới). Nhưng thông thường hơn cả là hát 5 câu (5 trên - 5 dưới). "Câu" theo cách gọi của các nghệ nhân dân gian có nghĩa là một bài hát. 5 trên - 5 dưới hoặc 10 trên - 10 dưới có nghĩa rằng nữ hát 5 bài xen kẽ 5 bài đối lại của nam hoặc nữ hát 10 bài xen kẽ 10 bài đối lại của nam.

 

Với 5 bài hát trong giọng Lề lối thường sử dụng, người ta đều bắt đầu bằng bài “Hừ la” và kết thúc bằng bài “Cái hừng” (còn gọi là Cái hời cái ả), còn 3 bài hát ở giữa có thể giống nhau, cũng có thể khác nhau. Nhìn chung tính chất của các bài hát trong giọng Lề lối thường chậm, hơi "rề rà". Với một cặp thơ lục bát có thể hát với phần nhạc dài 20 - 30 ô nhịp (2/4), vì vậy trong phần lời hát thường được thêm vào rất nhiều âm đệm như : tình tình tang ơ tang, ơi a ơi a tình tang, tang tình cái rằng mà này, ây a ây a là a...

 

Tuy giọng Lề lối có 36 bài hát nhưng hiện nay cả những nghệ nhân cao tuổi nhất cũng chỉ thuộc một số ít trong 36 bài hát đó, các bài hát bị mai một khá nhiều.

 

2. Giọng Vặt

 

Tiếp theo giọng Lề lối là các bài hát thuộc giọng Vặt, số lượng giọng Vặt khá phong phú và có thể chia ra làm nhóm : nhóm giọng Vặt có "bỉ" và nhóm giọng Vặt không có "bỉ".

A/ Những bài hát thuộc giọng Vặt có bỉ :  với cấu trúc 2 phần là bỉ (giới thiệu) và ruột (thân bài). Bỉ làm chức năng của việc giới thiệu khung cảnh, tinh thần chung và dẫn vào thân bài. Bỉ là phần mang tính chất ngâm ngợi, diễn tả tự do, không có nhịp, các tiêu chí nghệ thuật của lối hát Quan họ như : rền, vang, nền, nẩy được tập trung ở phần này. Vì vậy phần bỉ đòi hỏi người hát phải có giọng hát tốt, thuần thục những kỹ năng đặc thù của lối hát Quan họ và thể hiện với những cảm xúc tinh tế nhất. Sau phần bỉ (nhịp điệu tự do) là phần thân bài có khuôn nhịp. Phần tự do và phần vào nhịp là cấu trúc hai phần chính của giọng Vặt có bỉ. Cũng có những trường hợp bỉ không chỉ xuất hiện như sự mở bài, nó còn xuất hiện sau mỗi trổ hát và chuyển thành phần kết bằng một câu rút gọn. Lối cấu trúc này được gọi là "tiền bỉ hậu bỉ'. Một số bài hát thường dùng là :

-          Chim khôn đỗ ngọn thầu dầu

-          Lên núi Ba Vì

-          Giăng bao

-          Gọi đò

-          Trống cơm

-          Duyên nổi phận bèo

-          Em là con gái Bắc Ninh...

B/ Giọng Vặt không có bỉ : là những bài hát hoàn chỉnh như một ca khúc. Những bài hát này rất đa dạng, muôn màu muôn vẻ với những nội dung như : con đò, bến nước, giếng nước, gốc đa, đình làng, khóm trúc, những công việc lao động sản xuất... Thông qua những đối tượng muốn đề cập, người nghe cảm nhận được mối giao hòa giữa thiên nhiên, cảnh vật trong một tình cảm đắm say. Những bài hát hoàn chỉnh với những xúc cảm dạt dào, tinh tế được xem là những di sản quí báu của dân ca Quan họ. Chúng ta có thể kể một số bài hát như :

-          Ngồi tựa mạn thuyền

-          Xe chỉ luồn kim

-          Còn duyên

-          Mười nhớ

-          Hoa thơm bướm lượn

-          Ba sáu thứ chim

-          Đò đưa

-          Lý cây đa...

Về tính chất âm nhạc, giọng Vặt nói chung, mang một dáng vẻ riêng nhưng nằm trong dòng cảm xúc của tính chất âm nhạc giọng Lề lối. Có khi nó là sự phát triển hoặc kế thừa những ý nhạc, chất liệu của những bài hát trong giọng Lề lối. Ví dụ : trong bài Ngồi tựa mạn thuyền (giọng Vặt) có thể tìm thấy nét nhạc của bài Hừ la (giọng Lề lối) và nhiều trường hợp tương tự như thế.

Trong giọng Vặt chúng ta cũng tìm thấy sự tiếp nhận những nguồn dân ca của các vùng khác như : chèo, tuồng, hát xoan, hát ghẹo, ca trù, dân ca đồng bằng Bắc bộ, một số điệu lý của miền Trung, miền Nam...

Phần hát giọng Vặt là phần chính trong buổi hát Quan họ, đây là phần phong phú và thiên hình vạn trạng nhất. Cũng có thể những sự đối đáp, phần sáng tạo "tức hứng" chỉ là những câu thơ trên những làn điệu, bài hát có sẵn, nhưng cũng có khi đó là những câu nhạc, đoạn nhạc được ứng tác tại chỗ với cả phần nhạc và lời mà không dùng những bài hát, làn điệu sẵn có. Điều này đòi hỏi những liền anh, liền chị phải hết sức thấm nhuần âm nhạc Quan họ vào máu thịt của mình, phải có một trí nhớ tốt và một cảm nhận tinh tế để lĩnh hội được thần thái của câu nhạc mà phe bạn vừa ứng tác, để trong một phút chốc có thể có được một câu nhạc, khổ nhạc diễn tả trọn xúc cảm với đầy đủ lời và nhạc.

3. Giọng Giã bạn

Sau phần hát giọng Vặt là hát giọng Giã bạn. Đây là giai đoạn cuối của một buổi hát - hát để chia tay bạn. Không giống như giọng Lề lối, các bài hát trong giọng Giã bạn không có sự qui định về trật tự hoặc số lượng mà tùy thuộc vào cảm hứng, vào tình huống lúc đó. Một số bài hát thường dùng trong giọng Giã bạn là :

-          Rẽ phượng chia loan

-          Người ở đừng về

-          Chia rẽ đôi nơi

-          Kẻ Bắc người Nam

-          Người về bỏ bạn sao đành

-          Con nhện giăng mùng...

Trong giọng giã bạn các bài hát thường có cấu trúc vuông vắn, điều đáng lưu ý là mỗi trổ hát thường có phần điệp khúc, có khi điệp khúc đó chỉ là một câu nhạc hay thậm chí là một tiết nhạc với chủ ý nhấn mạnh hình tượng âm nhạc và tạo sự liên kết giữa các trổ hát.

Lúc này thường là đêm khuya, cuối buổi hát các liền anh liền chị đã "thấm" nhạc "thấm" tình, trước giờ phút chia tay, giọng hát và tính chất âm nhạc thường thắm thiết, xốn xang với những cảm xúc trào dâng. Trong bối cảnh và điều kiện như thế, những làn điệu Quan họ vang lên với tất cả những gì mà nó ẩn chứa, cũng như những xúc cảm dạt dào của người dân Kinh Bắc.

II/ Một vài tập tục phổ biến trong sinh hoạt Quan họ

 

Trong sinh hoạt dân ca Quan họ của người dân Kinh Bắc không có những qui định cụ thể mà chỉ là những điều “xưa bày nay làm”. Cùng một sự kiện có khi vẫn có những điều khác biệt giữa làng quan họ này và làng quan họ khác. Song chúng ta có thể đề cập đến một số tập tục phổ biến trong sinh hoạt quan họ như sau :

 

1. Kết bạn

Việc kết bạn giữa các nhóm (thường gọi là bọn) quan họ nam và quan họ nữ có những khác nhau tùy theo từng làng : Ở Bồ Sơn - Y Na, Diềm - Bịu khi hai nhóm quan họ nam - nữ kết bạn với nhau thì họ sẽ không kết bạn với nhóm thứ ba; sự kết bạn có khi tồn tại một thời gian vài ba năm, cũng có khi suốt đời... Nhưng nhìn chung sự kết bạn có những điểm chung : Các QH kết bạn với nhau bao giờ cũng khác làng, khác phái (nam - nữ); họ coi nhau như anh em trong gia đình, rất ít khi bạn QH kết hôn với nhau. Cũng chính vì thế mà họ có sự quan tâm giúp đỡ nhau về vật chất cũng như tinh thần, đi hát đâu cũng cùng đi, cư xử với nhau tế nhị lễ phép, đúng mực, tôn trọng và thương yêu nhau như anh em ruột thịt. Đây cũng là đặc điểm của sinh hoạt quan họ mà không một hình thức sinh hoạt dân ca nào khác ở nước ta có.

2. Mời và đón bạn

Nhóm này muốn mời nhóm kia đến hát thì chiều hôm trước phải cử người đến mời. Khi có người bên bạn đến mời, bên được mời phải tổ chức ngay một đêm hát và sáng hôm sau tiễn bạn về. Đến chiều, bạn được mời sẽ đến, chủ ra đón khách ngoài cổng làng rồi đưa bạn đi lễ thờ và hát chúc tại đình làng, chùa... sau đó đưa bạn về “nhà chứa”.

Nhà chứa là một địa điểm để QH tập luyện hoặc đón bạn. Nhà chứa có thể cố định nếu trong nhóm có người khá giả, nhà cửa rộng rãi làm địa điểm sinh hoạt. Nếu không có điều kiện thì nhà chứa sẽ được lưu động luân phiên trong các thành viên của nhóm QH đó.

Tại nhà chứa, hai bên thăm hỏi tặng quà nhau rồi hát đến tận nửa đêm mới dùng “cơm Quan họ”. Ăn xong, các QH hát tiếp rồi sau đó  dùng “tiệc nước” (như xôi, chè, bánh... ). Sáng hôm sau, chủ đưa bạn về nhà thăm cha mẹ, đến chiều họ lại tập trung tại nhà chứa. Sau khi tặng quà cho cha mẹ của nhau thì “giã bạn”, cũng có khi họ hát tới khuya mới giã bạn.

3. Cách hát, tư thế hát

Hát quan họ bao giờ cũng hát đôi, một đôi của bên này hát rồi một đôi của bên kia đối lại. Một buổi hát quan họ bao giờ cũng theo một qui trình nhất định. Đầu buổi được hát với các giọng “lề lối” - đó là các giọng cổ, cách hát với nhiều âm đệm như : í a, tình tang... Sau các giọng lề lối sẽ hát một vài câu “sổng” (thổng) rồi chuyển qua giọng “vặt” - loại giọng phát triển, ít âm đệm hơn - và cuối cùng chuyển về lại giọng cổ để kết thúc (giã bạn).

Sở dĩ có qui trình như trên là do nề nếp phong tục sinh hoạt của quan họ. Ban đầu, nhóm quan họ được mời, trước khi về nhà chứa của bạn đều phải hát lễ ở đình, chùa, với những nội dung chúc tụng dân làng được soạn hoặc nghĩ ra trước (để khỏi bị bắt bẻ, phạm thượng). Với nội dung mang tính nghiêm trang nên các giọng cổ là phù hợp. Khi đã về nhà bạn, nội dung chủ yếu là giao duyên nên phải dùng giọng phát triển với tính chất ứng tác của lối hát đối đáp mới đáp ứng được nội dung muôn màu muôn vẻ, tế nhị, sinh động. Và cuối cùng là sự lắng đọng trong cảnh chia tay, giã bạn nên lại trở về gịong cổ.

Tại đình, chùa khi các vị lớn tuổi hoặc có chức sắc đã yên vị, các nhóm quan họ thay mặt hai bên hát chúc tụng nhau. Khi về nhà bạn, chỉ còn hai nhóm quan họ nhưng các tư thế ngồi đứng cũng nề nếp. Một số tư thế đứng, ngồi hát mà các bọn quan họ hay dùng là :

- Nếu ngồi trên phản (đi-văng) thì hai người đối mặt nhau, chân co chân duỗi. Chân nào co thì khuỷu tay phía chân ấy tựa lên đầu gối, bàn tay chống cằm.

- Nếu ngồi trên ghế tràng kỷ thì thường có hai tư thế. Thứ nhất : tựa lưng vào tràng kỷ, một chân để trên tràng kỷ, đầu gối gập lại, khuỷu tay chống gối và bàn tay chống má. Thứ hai : ngồi hai chân để bình thường, người ngã về phía trước, hai khuỷu tay chống trên bàn, hai bàn tay chống cằm - má. Người nghe có thể im lặng lắng nghe, cũng có thể trò chuyện hoặc làm những việc như têm trầu, rót nước...

4. Trang phục

Người đi hội đa số đều ăn mặc những áo quần đẹp nhất, riêng với những nhóm quan họ có lễ phục riêng. Những “liền anh” (tên gọi chung các quan họ nam) và “liền chị” (tên gọi chung các quan họ nữ) có trang phục thống nhất như một sự qui định ngầm trong những làng quan họ với nhau, dù đi hát hội tự do hay hát trong những dịp được bạn mời đến nhà. Dưới đây là mô tả trang phục mà các nhà nghiên cứu ghi nhận vào đầu thế kỷ 20.

Trang phục nam quan họ

Áo dài 5 thân cổ đứng có lá se, viền tà, dài quá gối. Nam thường mặc một hoặc hai áo cánh, hai áo dài. Áo cánh và áo dài bên trong thường có màu trắng, mỏng, chất liệu là vải, phin, sồi, lụa... Áo dài phủ ngoài màu đen bằng lương, the. Những người khá giả lại may áo dài phủ ngoài hai lớp gọi là “áo kép” - lớp ngoài bằng the, lương; lớp trong bằng lụa màu xanh cốm, mạ non hoặc vàng chanh. Quần dài màu trắng, ống rộng, dài tới mắt cá, có thắt lưng nhỏ.

Chân đi guốc hoặc dép đen theo kiểu dép Gia Định. Giữa thế kỷ 20, nam quan họ có khi đi giày Tây bằng vải hoặc da. Đầu đội khăn nhiễu hoặc khăn xếp, nếu người để tóc búi thì khăn có mảnh nhiễu để che búi tóc. Nam quan họ còn che mưa nắng bằng nón chóp lá hoặc nón chóp dứa có quai lụa màu mỡ gà, nhưng thường dùng nhất là ô (dù) màu đen.

Trang phục nữ quan họ

Nữ quan họ thường mặc ba áo dài lồng vào nhau (gọi là mớ ba) hoặc bảy áo dài lồng vào nhau (gọi là mớ bảy). Đó là loại áo dài 5 thân có cài khuy - khác với áo tứ thân phụ nữ miền Bắc ngày xưa hay dùng. Chất liệu áo thường là the, lụa. Áo ngoài với các màu nền nã như : nâu già, nâu non, đen, cánh gián; áo dài trong thường là màu cánh sen, hoa hiên, thiên thanh, hồ thủy, vàng chanh, vàng cốm. Áo cánh mặc trong thường là phin trắng hoặc lụa mỡ gà. Yếm của nữ bằng vải với nhiều màu khác nhau như : hoa đào, cánh sen, mận chín, trắng...

Cổ yếm quan họ trung niên thường là cổ xẻ, còn các cô gái trẻ  lại thích cổ viền nhuộm màu. Yếm vòng quanh eo rồi thắt múi phía trước cùng với bao và thắt lưng; dải yếm to buông ngoài lưng áo, còn bao có tua bện hai đầu bằng sồi se màu đen được thắt ngang eo, luồn qua lưng áo dài bó chặt ba thân áo trước và thắt múi lớn phía trước bụng. Váy màu đen bằng sồi hoặc lụa, nếu là váy kép thì váy ngoài có thể là the. Mặc váy phải cho rủ hình lưỡi chai phía trước và phía sau “hớt” lên ngang mắt cá chân.

Khăn đội đầu màu đen bằng vải láng hoặc the thâm. Để đội khăn trước hết phải quấn tóc trong khăn quấn tóc rồi vòng khăn tròn lại và đặt lên đầu, hơi xệ phía sau gáy và ghim lại. Đặt khăn vuông gấp hình tam giác lên vấn tóc, bẻ hình mỏ quạ ngay đường rẽ tóc và bắt hai góc khăn về phía tai rồi thắt múi phía sau gáy. Khuôn mặt nữ quan họ trắng hồng sẽ nổi lên giữa màu đen của khuôn khăn mỏ quạ và hai mớ tóc mai tạo nên hình búp sen hồng rất đẹp.

Nón là loại nón "ba tầm" bằng lá cọ, mặt trong được trang trí hình hoa, bướm hoặc loan, phụng mỏ cắp phong thư. Quai nón se bằng tơ tằm, đôi đầu quai được kết hoặc bện hai hoặc ba thao tua nên nón còn gọi là nón quai thao. Nữ quan họ trang phục đúng cách, đúng điệu là cả một nghệ thuật.

III/ Hội Lim - ngày hội tiêu biểu của dân ca Quan họ

 

Nhắc đến hát Quan họ không mấy ai không biết đến ngày Hội Lim - Một trong những ngày hội của hát Quan họ trên mảnh đất kinh bắc. Tuy nhiên Hội Lim không phải là ngày hội duy nhất của dân ca quan họ vùng Kinh Bắc. Thật ra nó chỉ là một trong rất nhiều ngày hội hát dân ca quan họ mà thôi. Ngoài Hội Lim của làng Lim còn có những hội khác như : Hội Chùa của làng Diềm, Hội Nhũng Giang - Tam Sơn (trong những ngày hội của hai làng “kết chạ” này) Hội kết chạ làng Bò của làng Bò, Hội Nhồi của làng Nhồi, Hội trên thuyền của làng Bùi... Và hát quan họ cũng chỉ là một trong những sinh hoạt của Hội Lim. Trong hội Lim còn nhiều sinh hoạt như : chọi gà, chọi chim, đánh cờ người, đốt pháo, bắt vịt, đánh đu... Tuy nhiên hội Lim là ngày hội lớn, tiêu biểu cho loại hình dân ca này.

 

Hội Lim là ngày hội chùa Lim do làng Lim đứng ra tổ chức, sở dĩ Hội Lim có qui mô lớn, thu hút nhiều người tham gia hơn những hội khác bởi nó hội tụ được những điều kiện “thiên thời, địa lợi, nhân hòa” . Hội Lim tổ chức vào ngày 13 tháng Giêng, trùng với ngày hội chợ đầu năm; trước đó một ngày (12 tháng Giêng) là ngày hội đình của sáu làng chung quanh làng Lim; ngày 13 âm lịch cũng là ngày trăng sắp tròn, khí hậu, bối cảnh thuận tiện cho sinh hoạt, công việc đồng áng thư thả... Trong không khí và bối cảnh chung như vậy, có thể nói đó là thời điểm chín muồi của một ngày hội lớn.

 

Trước Tết một, hai tháng các nhóm (còn gọi là bọn) quan họ đã tập dợt chuẩn bị, mồng 4, 5 Tết các bọn đi hát “giao lưu” ở các làng kế cận để có điều kiện thực hành đồng thời cũng để nắm chất lượng các bọn quan họ làng khác nhằm có dự kiến sẽ mời những bọn sẽ về dự Hội Lim. Tuy nhiên mời những bọn nào đó là sự quyết định của các ông Trùm, bà Trùm.

 

Trong ngày Hội Lim có hai hình thức hát : hát trong nhà của những bọn kết nghĩa được mời và hát ngoài đồi của những bọn tự do đến xem hội, góp vui và tìm bạn.

 

Các bước tiến hành của hát Quan họ Hội Lim

Như trên đã nói, Hội Lim có hai hình thức là là hát trong nhà và hát ngoài đồi. Mỗi hình thức đều thể hiện nét văn hóa thanh tao tế nhị của người dân vùng Kinh Bắc.

 

1. Hát trong nhà

Hát trongnhà là hình thức hát dành cho những bọn quan họ của làng khác được làng Lim mời. Về phía chủ, các bọn quan họ làng Lim trước đó đã đóng tiền cho ông trùm (bà trùm) và cử những gia đình chịu trách nhiệm “đăng cai”. Gia đình đăng cai sẽ làm “cơm Quan họ”. Từ sáng sớm các chị quan họ tập trung để têm trầu, làm gà, nấu xôi..., còn các em thì ra chùa để đợi đón khách.

Cũng từ sáng sớm, từng bọn quan họ khách mời ăn mặc lễ phục ngày hội, từng nhóm thẳng tới chùa Lim. Đến nơi họ dạo quanh xem hội, chờ đến lúc bạn mời vào lễ Phật và đón về nhà.

Quan họ bạn đến cổng thì cất tiếng hát với nội dung chúc mừng làng, mừng nhà, mừng bạn. Quan họ chủ đứng giữa sân hát đón bạn và chúc lại bạn. Quan họ chủ đỡ nón, ô cho quan họ bạn và mời ngồi vào riêng một giường, giường đối diện là nơi quan họ chủ ngồi, sau đó hai bên cùng nhau hát đối đáp. Có thể nói hát đối đáp quan họ là sự giao lưu giữa chủ và khách mà những lời mời, lời tâm sự đều được thể hiện qua những điệu hát.

Khi hai bọn quan họ đã yên vị, đầu tiên quan họ chủ hát mời bạn xơi trầu, xơi nước; Quan họ bạn hát cảm ơn sự đón tiếp chu đáo. Sau đó là những đối đáp tâm sự, giãi bày tình cảm giữa hai bên. Đến trưa, quan họ chủ hát mời xơi cơm; quan họ bạn hát cảm ơn. Quan họ chủ hát mời bạn nâng chén và hát tiếp bạn cho đến khi bạn ăn cơm gần xong các quan họ (chủ và bạn) mới tạm dừng hát, lúc này quan họ chủ ngồi vào mâm cơm của mình để dùng cơm trưa.

Buổi chiều cả hai cùng dẫn nhau đi xem hội. Đến tối sau bữa cơm hai bọn lại tiếp tục hát, nửa đêm tạm nghỉ để “xơi tiệc nước” rồi tiếp tục hát cho đến rạng sáng và tiễn bạn.

2. Hát ngoài đồi

Trong ngày Hội Lim, ngoài những bọn quan họ được mời, mọi người đều được đón tiếp chu đáo về nghi thức cũng như về ẩm thực. Ngoài ra, Hội Lim còn thu hút rất nhiều khách đến chơi hội và xem hội, trong số đó có những bọn quan họ (không được mời chính thức), số này cũng tiến hành hát quan họ với hình thức hát giao duyên.

Với những bọn hát tự do trong ngày hội, một bọn nam chưa có bạn đi tìm một bọn nữ (cũng chưa có bạn) và mời trầu, nếu bọn nữ “xơi” tức là đồng ý nhận lời mời hát, hát với nhau dăm ba câu nếu thấy “hợp” thì họ hát tiếp, nếu không họ sẽ hát chào và đi tìm bạn khác. Từng đôi có thể đứng hát với nhau bất kỳ nơi nào quanh đồi Lim và có rất nhiều người xem.

Hát ngoài trời có đặc điểm là nam che ô (dù) còn nữ thì che nón thúng quai thao, bất kể trời mưa hay nắng. Chiếc ô và nón quai thao làm tăng thêm nét duyên dáng, bớt sự "trống trải" của đôi tay, nó còn tránh được những cặp mắt “tò mò” của những người chung quanh.

Ngày hội Lim là ngày tưng bừng náo nức, nơi hội tụ nam thanh nữ tú, những giọng hát hay, những người bạn tri kỷ... Nhà nhà, người người, trên đồi, trên nương, sân đình..., đâu cũng ngân vang những giai điệu thiết tha, tình tứ, những trò chơi sôi động. Song cuộc vui càng ý nghĩa thì giờ khắc chia tay cũng tràn đầy nhớ nhung luyến tiếc. Giờ chia tay, các bọn QH gởi hết tâm tình của mình vào điệu hát Giã bạn khi trăng sao mờ dần nhường bầu trời cho ánh bình minh.

Trải qua một quá trình phát triển lâu đời trên một vùng đất có sự giao lưu rộng và phát triển sớm, Hát Quan họ đã trở thành một điểm sáng trong dân ca Việt Nam. Lời hay ý đẹp, ngôn ngữ bình dân nhưng tinh tế, ý nhị, giàu hình tượng và cảm xúc; âm điệu phong phú, trữ tình, lối hát mượt mà với kỹ thuật nảy hạt độc đáo, phong cách lịch thiệp - tất cả làm nên vẻ đẹp và sức hấp dẫn của dân ca Quan họ Bắc Ninh.

 
(Theo Giai dieu xanh)