Ca trù
Cập nhật, ngày14/08/2009 10:55

Ca trù hay còn gọi là hát ả Đào, hát nhà tơ, hát nhà trò, hát cửa quyền - là một loại hình nghệ thuật cổ truyền chuyên nghiệp hình thành từ thời Lý (1010 -1225), thịnh hành ở các triều Lê (1533 -1788) và rất phát triển ở miền Bắc Việt Nam vào thời Nguyễn (1778 - 1945).

Ca trù là loại hình nghệ thuật mà trong đó ả đào (ca sĩ), kép đàn (nhạc công) và quan viên (khán giả) phải luôn đạt đến sự đồng điệu trong cảm nhận nghệ thuật. Họ là những thành viên khăng khít trong một mối quan hệ chặt chẽ có ảnh hưởng lẫn nhau trong việc tạo nên chất lượng của một chầu hát.

 Dàn nhạc trong hát ca trù gồm ba nhạc cụ

- Cỗ phách 3 lá là nhạc cụ được coi như xương sống của lối hát do chính người hát sử dụng, góp phần tạo nên tính nhất quán bởi sự nhắc lại của các khổ phách.

- Đàn đáy là loại đàn gẩy độc đáo của Việt Nam giữ chức nǎng đệm, phối hợp với giọng hát và tiết tấu phách một cách hài hòa, nhuần nhuyễn.

- Trống chầu là loại trống nhỏ do một người có trình độ thẩm mỹ cao về vǎn thơ, âm nhạc và có óc sáng tạo linh hoạt dùng để chấm ngắt câu vǎn và khen chê giọng hát, tiếng đàn.

Quan viên trong chầu hát ca trù không đơn thuần là người thưởng thức. Để trở thành quan viên cầm trống chầu trong ca trù, họ cũng phải học những thể cách, luật lệ đánh trống, phải biết cả nhịp, câu của đàn, phách và ca để chấm câu văn, điểm câu hát. Người cầm chầu hay là người có nhiều sáng tạo hợp lý, đón được câu hát, tiếng đàn, khổ phách để khen, chê bằng tiếng trống của mình. Người cầm chầu linh động, hoạt bát là người có thể khỏa lấp những yếu kém của đàn, phách và ca. Họ như là người nhạc trưởng của một buổi hòa nhạc, là linh hồn của một chầu hát ca trù.

Tiếng trống gọi đào kép: Có 3 khổ trống là

    *
      Sơ cổ : gồm 5 tiếng trống, 3 tiếng đầu khoan thai, 2 tiếng sau hơi gấp
    *
      Tông cổ : gồm 4 tiếng trống, 2 tiếng đầu khoan thai, 2 tiếng sau hơi gấp
    *
      Trung cổ : gồm 3 tiếng trống, 2 tiếng đầu khoan thai, 1 tiếng sau hơi gấp

Khi nghe trống gọi nếu kép đàn dóng lên những tiếng đàn và đào róc phách là tỏ ý đã sẵn sàng. Nếu đào kép chưa sẵn sàng, còn chuẩn bị gì đó, trống chầu còn có khổ trống thôi cổ (gồm hai tiếng khoan thai) để thúc giục đào kép.

Những tiếng cơ bản của trống chầu trong một chầu hát gồm :

- Trống điểm nhịp theo đàn và hát: với những luật lệ riêng của trống và sự sáng tạo của người cầm chầu, trống phải đổ đúng phách nhịp của đàn, hát và quan trọng là phải thể hiện được những cảm nhận đối với câu hát, nhịp đàn, khổ phách, biểu hiện tức thời sự đồng điệu, như sự nối tiếp, khích lệ đối với đào kép. Bởi vậy mà có tiếng trống khen chê.

- Trống khen, trống đuổi : để thưởng cho đào hoặc kép khi tâm đắc một câu ca, khổ phách hoặc câu đàn. Để thưởng cho ca hoặc đàn, đó là một tiếng tom (cũng có khi là hai tiếng tom) nếu xuất sắc thì đó là một tiếng chát (đánh vào tang trống). Còn thưởng cho phách thì đó là ba tiếng chát. Nếu ả đào hát dở, 4-5 tiếng tom dồn dập là trống chê, trường hợp những tiếng trống liên tục từng hồi là trống đuổi, không cho đào hát nữa. Tuy nhiên trong thực tế cũng ít khi dùng trống đuổi vì sự tế nhị.

Người đánh trống trong chầu hát rất quan trọng có thể ví họ như quan trường còn người hát là học trò đi thi, học trò trong trường thi phải theo sự điều khiển của quan trường. Cũng có thể ví họ như tướng cầm quân, lính ra trận, tiến - thoái phải theo lệnh điều khiển của tướng. Có thể nói họ là linh hồn của chầu hát.

Người học Ca trù sẽ học theo từng bước một, ban đầu là ca phách, ca đàn, học đánh phách, cuối cùng mới là học hát. Học hát ban đầu là học lấy tiếng để ăn đủ với phách, sau đó mới là học các kỹ thuật, lấy hơi, bắt câu, nhả chữ, đổ con kiến… Ðặc biệt nhất là học phách, chiếm trọn một năm đầu khi học. Phách ca trù có tất cả năm khổ với 87 tiếng nhưng để đánh được 87 tiếng đó cho ra tiếng phách của Ca trù thì phải học đến một năm.

Trong Ca trù quan trọng nhất là phách, người đánh đàn lấy trường độ của tiếng phách để giữ nhịp khi ra vào tiếng đàn cho đúng khổ, đúng với câu hát, người hát thì lấy trường độ của tiếng phách để vào câu hát, phách nhanh thì hát mau, phách chậm thì hát thưa. Lấy cao độ của tiếng phách để giữ lấy hơi hát, tiếng phách rung mạnh mẽ thì bắt hơi bổng, phách rung nhẹ thị bắt hơi trầm, thế nên mới gọi là một tiếng đàn, một tiếng hát, một tiếng phách. Tiếng phách là tiếng hát thứ hai của người đào nương, người nào hát được khuôn thì phải hát như vậy. Còn trống chầu, muốn điểm trống để ngắt câu hát khi hết một khổ thì phải nhờ vào tiếng phách báo của đào nương, nếu biết được điều đó thì cầm chầu không bao giờ bị trệch cả. Người hát như thế gọi là Hát Khuôn.

Hát Khuôn khó bởi tính khuôn khổ đi theo từng quy luật nhất định, vì thế nên tuy các giáo phường xưa kia có những kiểu dạy và học khác nhau nhưng người ở giáo phường về khuôn khổ, năm khổ phách, năm khổ đàn đều nhất nhất theo một.

Còn một yếu tố nữa để thấy cái hay của Ca trù là việc tạo ra tiếng đặc trưng. Thực ra trong các bộ môn âm nhạc cổ truyền của nước ta, mỗi cái đều chứa trong nó những tiếng đặc trưng. Bởi thế nên người ta chỉ cần một tháng học là có thể đánh đủ số tiếng phách, nhưng cho ra cái tiếng phách của Ca trù không thể lẫn với phách của Chèo hay của Ca Huế thì phải mất một năm, hát là bốn năm, đàn là mười năm.

Bốn yếu tố hát, phách, đàn, trống hoà hợp vào nhau thì tạo thành một thứ âm thanh mê hồn, quyến rũ đến tuyệt vời.

>> Thưởng thức "Làn điệu Tỳ bà hành" - NS CLB Ca Trù Thăng Long

 
(Theo Giai điệu xanh)