Ðàn Hroa
Cập nhật, ngày16/06/2010 15:24

Cây đàn Hroa của đồng bào dân tộc Cà Tu, gần giống như cây đàn cò của người Kinh. Chiều dài toàn bộ cây đàn khoảng 50 cm, được chia làm hai phần chính: Ðế đàn làm bằng một mảnh gỗ mỏng, gần 1 cm, dài hơn 15 cm, có chạm trổ hoa văn họa tiết rất đẹp.

Khi chơi đàn, có thể dùng hai ngón chân cái và trỏ kẹp vào phần dưới của đế đàn để định vị cho cây đàn.

Thân đàn gồm một ống nứa nhỏ, đường kính dưới 30 cm, đầu dưới được gắn vào đế đàn, phần trên để trống và cũng là nơi chứa cần đàn (cần kéo) khi không sử dụng.

Gần đầu đàn có một cái chốt bằng tre xuyên qua thân đàn để lên dây đàn. Dưới chốt, trên thân ống có gắn ba cái núm nhỏ làm bằng chai chò (nhựa cây chò), hoặc sáp ong, gọi là vú đàn và gắn theo chiều dọc của ống, có khoảng cách 1 cm giữa các vú.

Ngoài ra, có một sợi chỉ (dài hơn thân đàn một chút), nối từ nơi tiếp giáp giữa đế đàn và thân đàn, đến cuối sợi chỉ thì xuyên qua một mảnh vảy con trút, cắt theo hình tròn.

Ðàn được chơi qua hai cách:

Cách thứ nhất: dùng cây cần bằng tre hay nứa kéo qua lại chỗ tiếp giáp giữa dây đàn và thân đàn, đồng thời các ngón tay của bàn tay trái bấm dây đàn, âm thanh phát ra như những cây đàn bình thường khác.

Cách thứ hai: là điểm rất đặc biệt và độc đáo của cây đàn này. Người sử dụng dùng hai hàm răng cắn miếng vỏ trút và giữ cho sợi chỉ nằm trong tình trạng căng ra (không bị chùng) đồng thời hát (hát trong khi hai hàm răng vẫn cố định, không há miệng).

Âm thanh lúc bấy giờ nghe lớn hơn và không còn nghe tiếng nhạc đơn thuần nữa mà nghe hòa quyện lời ca lồng trong tiếng nhạc, nghe rất não nùng đượm mầu hoang dã, lôi cuốn người nghe.

 
(Theo Báo nhân dân)