Đàn T'rơbon
Cập nhật, ngày06/07/2010 08:55

Bà con dân tộc Chứt gọi đàn này là đàn T’Rơbon. Chưa biết T’Rơbon trong ngôn ngữ dân tộc có nghĩa là gì nhưng cái tên cũng gợi ra một âm hưởng gần gũi với núi rừng, cỏ cây nghe rất dân dã. Nó giống đàn nhị bởi cũng có hai dây và phải dùng vĩ kéo.

 

Đàn T'rơ bon khi chưa cải tiến

1. Về cấu tạo đàn và các bộ phận của đàn

Nhìn bề ngoài, thân đàn trông giống như một chiếc điếu cày gắn bó với người nông dân miền Bắc. Đó là một ống nứa dài chừng 70 cm (có thể tương ứng với một đốt rưỡi hoặc hai đốt ống nứa), đường kính chừng 5cm.

Phần đầu của ống nứa cắt bỏ hai bên, chỉ để lại hai mẫu nhỏ đối xứng nhau qua trục ống (tạm gọi là tai đàn), cao chừng 3cm, rộng khoảng 1,5 cm. Một tai đàn được đàn T’Rơbon nguyên bản gọt vát để có thể làm chỗ tỳ khi chơi hoặc để buộc dây leo. Bên tai kia dùng để buộc cố định một đầu dây đàn bằng cách cuốn nhiều vòng.

Thân đàn chính là toàn bộ chiều dài ống tính từ dưới tai đàn, cũng đồng thời là hộp cộng hưởng của đàn. Điểm độc đáo là đoạn cuối thân ống, khoảng 30 cm được bổ làm đôi theo chiều dọc thân, một phần già hơn tạm gọi là lưng đàn, phần còn lại non hơn một chút gọi là mặt đàn. Về hình thức, phần lưng cũng chính là cần đàn, còn mặt đàn chính là phím đàn. Có thể gọi đoạn thân từ chỗ bổ đôi này trở xuống là đuôi đàn.

Dây đàn làm bằng sợi tơ hoặc cước (cỡ tương đương với dây to của đàn nguyệt). Có hai dây được căng dọc theo chiều dài thân đàn về phía mặt phím. Điểm đặc biệt là tuy hai dây nhưng thực chất chỉ có một sợi, do cách căng dây đàn chia làm hai lần. Đầu tiên, một đầu sợi cước được gài vào gốc đuôi đàn kéo lên rồi được cố định bằng cách cuộn vào tai đàn theo hướng từ phải sang trái, từ trong ra ngoài. Sau đó tiếp tục căng dây thứ hai (lần hai) bằng cách kéo từ tai đàn trở xuống song song với dây thứ nhất rồi gài vào gốc đàn để cố định toàn bộ.

Vĩ kéo của đàn T’Rơbon là một cật nứa dẹt, chiều dài tương đương với thân đàn (khoảng 68 – 70 cm), bản rộng chừng 1cm.

2. Về cách lên dây đàn, âm sắc và phương thức diễn tấu

Đàn T’Rơbon lên dây quãng 5 đứng Rê – La theo giọng nữ hoặc Đồ – Sol theo giọng nam. Nếu muốn lên cao hơn thì chỉ cần cuốn thêm một vòng vào tai đàn; ngược lại khi cần xuống thấp thì lại nới ra một vòng.

Tiếng đàn nghe thô ráp, nhưng lại vang và chứa đầy vẻ hoang sơ, bí ẩn đúng như vẻ hoang sơn, dân dã của cây đàn. Và cũng không phải vì vậy mà tiếng của nó không toát lên âm điệu nồng nàn, đôn hậu rất hợp với lối sống tự nhiên, phóng khoáng của bà con dân tộc ít người.

Về phương thức diễn tấu, đàn T’Rơbon có thể thực hiện khá phong phú: chơi độc tấu, chơi được nhiều bản nhạc dân ca Bắc, Trung, Nam; có thể đệm cho người hát, vừa hát vừa đệm; có thể kéo, búng hoặc gẩy dễ dàng, tóm lại là có thể trình tấu theo nhiều kiểu cách phong phú, đa dạng. Do đàn gọn, nhẹ nên người chơi có thể cơ động với các tư thế ngồi hoặc đứng và thay đổi các tư thế một cách dễ dàng sao cho phù hợp.

Nghệ nhân có thể không dùng vĩ kéo mà gẩy hoặc búng trên một đoạn nhạc dài có tiết tấu dồn dập. Do thân đàn là ống nứa dài và hai dây căng ngay trên bề mặt nên tạo được âm vang tối đa khi gẩy, hiệu quả âm nhạc rất mỹ mãn, thậm chí người nghe còn cảm giác như có một nhạc cụ gõ đi kèm. Chính điều này đã tạo nên một ưu thế không nhỏ của đàn T’Rơbon so với đàn nhị, thậm chí cả đàn tính tẩu của người Thái vùng Tây Bắc và Đông Bắc.

Đàn T'Rơbon đã cải tiến

3. So sánh đàn T’Rơbon và một số nhạc cụ khác trên thế giới

Căn cứ theo cấu tạo và phương thức diễn tấu, có thể xếp đàn T’Rơbon vào nhóm đàn dây có vĩ kéo (Violes). Theo số liệu nghiên cứu sơ bộ, trên thế giới có khoảng hơn 100 loại nhạc cụ được xếp vào nhóm này. Tuy nhiên, đàn T’Rơbon tương đối giống với 5 loại đàn:

- Đàn AP- KHER- XA rất thịnh hành ở các nước thuộc vùng Trung Á.

- Đàn ÔI – U KHI – CÔ của dân tộc Kareli (một dân tộc sinh sống ở miền Bắc nước Nga tiếp giáp với Phần Lan).

- Đàn RE – BECH phổ biến ở các nước Tây Âu trong các thế kỷ XVII – XVIII.

- Đàn SA – RANG – GHI của người Ấn Độ.

- Đàn SI – CHEC – SIN một loại đàn tương tự như AP – KHE – XA cũng của các dân tộc sống ở vùng Trung Á.

Sở dĩ có thể xếp các loại đàn nói trên vào nhóm tương tự như đàn T’Rơbon của Việt Nam là vì một số đặc điểm gần gũi giữa chúng như sau:

- Cần đàn và hộp cộng hưởng liền một khối, cầm tay trái, không có phím bấm được đánh dấu vị trí trên mặt đàn như nhiều loại đàn dây khác, độ dài tương tự nhau, cùng khoảng 70 cm.

- Vĩ kéo cầm bằng tay phải, do đó khi chơi tạo ra một dáng điệu gần giống nhau.

- Có hai dây làm bằng tơ hoặc nilon, một dây đàn giai điệu, một dây đệm bằng âm trì tục, thường dùng để đệm cho hát là chủ yếu.

- Chế tác đơn sơ, phương pháp diễn tấu đơn giản, không cầu kỳ và dễ thích ứng, thay đổi linh hoạt.

Từ sự so sánh trên đây, có thể thấy rằng đàn T’Rơbon dễ dàng “hội nhập” với các nhạc cụ cùng loại ở các dân tộc khác trên thế giới trong quá trình giao lưu văn hóa, nghệ thuật, đặc biệt là âm nhạc dân gian của các dân tộc. Nếu được nghiên cứu kỹ lưỡng, có bài bản và đầu tư thích đáng, có thể sử dụng T’Rơbon như một “sứ giả” đắc lực của âm nhạc Việt Nam thời kỳ mở cửa, hội nhập.

Điểm khác biệt của T’Rơbon với các loại nhạc cụ trên là ở chỗ dùng hộp cộng hưởng bằng ống nứa có sẵn để âm thanh vang lên một cách tự nhiên, khác với những nhạc cụ phải chế tác hộp cộng hưởng; đàn T’Rơbon không căng dây bằng trục như các đàn thông thường và vĩ kéo cũng dùng ngay thanh nứa một cách tự nhiên, không phải chế tác gì công phu.

 
(ĐHVHNTQĐ)